Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn Marketing thương hiệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Marketing thương hiệu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2011

Kinh doanh website "nhái"

quangcaotructuyenvn - Marc, Oliver, và Alexander Samwer đã trở thành những doanh nhân huyền thoại của châu Âu. Không chỉ xây dựng những công ty “kiểu Mỹ” tại châu Âu, họ còn đầu tư vào các công ty Mỹ mới nổi mà muốn mở rộng đầu tư sang châu Âu, như LinkedIn và Facebook.

Chiến lược của ba anh em nhà Samwer có vẻ rất đơn giản, đó là lập ra những công ty “na ná” kiểu Mỹ, như eBay, Facebook và Groupon, sau đó bán lại.

Họ đến Silicon Valley ngay khi rời khỏi trường đại học. Đó là vào năm 1998. Họ nói rằng đang phải làm luận văn về kinh doanh và bắt đầu tiến hành gặp gỡ và phỏng vấn càng nhiều đại gia Silicon Valley càng tốt. Sau đó, họ trở về Đức và khởi nghiệp công ty riêng của họ.

Kinh doanh website

Sau khi trở về nhà, vào tháng 2/1999, họ xây dựng bản sao eBay của Đức đầu tiên, trang Alando.de. Chỉ 4 tháng sau, họ bán lại nó cho eBay với giá 50 triệu USD.

Kinh doanh website

Tiếp theo, họ lập ra công ty nhạc chuông Jamba và bán lại nó cho hãng Verisign với giá 273 triệu USD.

Kinh doanh website

Sau đó, họ lại cho ra bản sao của Facebook tại Đức, với trang StudiVZ. Người ta nhận xét rằng, anh em nhà Samwer là những người tuyệt vời về mặt tạo bản sao. StudiVZ là một bản sao kiểu Đức của Facebook mà nhà Samwer đầu tư. Trang này copy theo Facebook mọi thứ, chỉ đổi màu xanh của Facebook sang thành màu đỏ.

Kinh doanh website

Năm 2007, họ bán trang Facebook kiểu Đức với giá 100 triệu USD cho một công ty truyền thông của Đức là Georg von Holtzbrinck GmbH.

Kinh doanh website

Không chỉ đầu tư vào những công ty kiểu bản sao, hiện nay, họ đang đầu tư vào những công ty Mỹ muốn mở rộng hoạt động kinh doanh sang châu Âu. Năm 2006, họ lập công ty đầu tư European Founders. Ngoài ra, họ còn đầu tư vào Facebook và LinkedIn – hai công ty đang hiện diện mạnh mẽ tại châu Âu.

Kinh doanh website

Đầu tư vào Facebook 15 tỷ USD, và giờ đây khoản đầu tư đó trị giá 50 tỷ USD, quả thực là một khoản đầu tư thành công. Ngoài ra, họ còn là nhà đầu tư ở Nasza-Klasa, một mạng xã hội rất nổi tiếng của Ba Lan và vào Oanda, một trang thương mại tiền tệ được xếp vào hàng có giá trị thứ 10 trên thế giới vào năm 2008.

Kinh doanh website

Năm 2008, anh em nhà Samwers còn lập ra một công ty tên là Rocket Internet, chuyên tập trung vào thương mại điện tử. Chưa hết, nó còn có những chiến lược bản sao khác, như Plinga – bản sao của Zynga, và Frazr, bản sao của Twitter.

Kinh doanh website

Samwer Brothers nắm bắt cơ hội rất nhanh chóng khi nó đến. Khi hiện tượng Groupon lần đầu tiên nổ ra, họ đã lập ra CityDeal, bản sao Groupon đầu tiên của châu Âu. CityDeal phát triển rất nhanh, rất mạnh. Thành lập vào tháng 1/2010, đến tháng 5 Groupon đã mua lại trang này. Theo thông tin, giá trị của thương vụ đó là khoảng 100 triệu USD. Thật không tồi cho quá trình 5 tháng làm việc.

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2011

Tiếp thị thương hiệu - Brand Marketing

Tiếp thị thương hiệu - Brand Marketing
Quangcaotructuyenvnn - Tiếp thị thương hiệu là khuynh hướng chủ yếu của marketing hiện đại. Trước đây marketing chỉ chú ý đến sản phẩm, với chiến lược xoay quanh khái niệm vòng đời sản phẩm. Các lý thuyết của Philip Kotler vẫn xoay quanh khái niệm sản phẩm là chủ yếu. Trong những thập kỷ sau cùng của thế kỷ 21, các tập đoàn đa-quốc-gia hàng đầu trong lĩnh vực hàng tiêu dùng đã đi tiên phong trong mô hình marketing và quản trị lấy thương hiệu (brand) làm trung tâm của chiến lược cũng như của quản trị doanh nghiệp.


Cần lưu ý rằng Tiếp thị thương hiệu tái định nghĩa cả sản phẩm chứ không như sự nhầm lẫn giữa Brand Marketing (tiếp thị thương hiệu) và branding (xây dựng thương hiệu). Bằng luận điểm “thương hiệu chính là đỉnh cao của sản phẩm” Tiếp thị thương hiệu là hệ thống tiếp thị toàn diện nhất hiện nay

Trong hệ thống lý luận Tiếp thị thương hiệu, sản phẩm được định nghĩa “là một tập hợp các lợi ích”. Khi mở rộng định nghĩa này chúng ta có: “hai nhóm lợi ích: nhóm lợi ích và nhóm lợi ích cảm tính”. Các lợi ích này khi đáp ứng nhu cầu của khách hàng thì được gọi là “giá trị”. Vì vậy khái niệm “lợi ích” là thuộc tính của sản phẩm còn khái niệm “giá trị” là thuộc tính của “thương hiệu”.

“Một tập hợp các lợi ích (tức Sản phẩm) bao gồm các yếu tố khác biệt được công nhận, sẽ trở thành Thương hiệu”. Cần lưu ý rằng trong các yếu tố khác biệt (hay yếu tố nhận diện, identity) có khái niệm thuộc về Pháp lý (Trade-mark) và các khái niệm ngoài Pháp lý nữa.

Khái niệm Sản phẩm là một tập hợp các Lợi ích, là một sự thay đổi lớn trong nhận thức của chúng ta về thế giới xung quanh. Định nghĩa này cho thấy có thể xem mỗi con người cũng là một sản phẩm, một thương hiệu; đồng thời xây dựng thương hiệu cũng đi đôi với xây dựng sản phẩm là vì vậy. Tóm lại Marketing cần phải ‘định nghiã sản phẩm nhìn từ bên ngoài vào theo quan điểm của khách hàng’ chứ không phải định nghĩa sản phẩm từ bên trong như định nghĩa sản phẩm theo cách thông thường của nhà sản xuất.

Phẫu hình ảnh thương hiệu

Phẫu hình ảnh thương hiệu (brand image diagnosis) là phương pháp phân tích hình ảnh, giá trị thương hiệu toàn diện, bao gồm cả gía trị lợi ích của sản phẩm chứa bên trong thương hiệu. Quy trình cần thiết để thực hiện, áp dụng phẫu hình ảnh trong thực tế là hệ thống theo dõi sức khỏe thương hiệu (brand health monitoring, brand health tracking) do một số công ty nghiên cứu thị trường hàng đầu thực hiện. Phương pháp quản trị thương hiệu theo phẫu hình ảnh là công cụ đạt mức độ rất cao về chuyên môn, trong đó bao gồm các khái niệm của brand audit, pull&push và các công cụ khác trong quản trị thương hiệu. Vì vậy những thương hiệu lớn thường áp dụng triệt để công cụ phẫu hình ảnh.

Điểm khác biệt rõ nhất của các phương pháp nghiên cứu, chuẩn đoán, quản trị hình ảnh thương hiệu như trên đó là khả năng lượng hoá từng thành tố hình ảnh, hoặc giá trị thương hiệu (brand image attributes).

Branding khác với Tiếp thị thương hiệu như thế nào?

Branding là khái niệm thiên về phần hình thức, hình ảnh thương hiệu, cụ thể hơn là khuếch trương hệ thống nhận diện thương hiệu. Branding thường không chú ý đến nghiên cứu phát triển sản phẩm, thường là chấp nhận một sản phẩm hiện hữu để nâng cấp thành thương hiệu. Branding vì vậy không đưa ra được các giải pháp lý tính và tập trung khai thác giá trị cảm tính. Các nhà tư vấn chuyên nghiệp như Interbrand và Landor vẫn tập trung Branding chứ chưa lột tả hết ý nghĩa chiến lược sâu xa từ sản phẩm.

Tiếp thị thương hiệu đề cập xâu sắc hơn về khái cạnh chiến lược (strategic brand management) và quản trị thương hiệu với ý nghĩa là một chiến lược marketing tổng thể, ít nhất ở cấp độ giải pháp toàn diện 4P, hoặc cao hơn là 7P (mô hình của Võ Văn Quang). Lưu ý trong lý thuyết Tiếp thị thương hiệu, chúng tôi đã định nghĩa lại “thương hiệu chính là đỉnh cao của sản phẩm”. Tiếp thị thương hiệu vì vậy, rất chú trọng vào sản phẩm (theo ý nghĩa toàn diện của nó).

Tóm lại Branding đi sâu hơn vào chiến lược hình ảnh thương hiệu, còn Tiếp thị thương hiệu là chiến lược tổng thể.

Nguồn brand