Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn xay dung thuong hieu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn xay dung thuong hieu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011

Làm thương hiệu gắn với từ thiện xã hội

Thông qua các chương trình làm từ thiện xã hội các cá nhân , tổ chức cũng có cơ hội phát triển thương hiệu của mình.

làm thương hiệu gắn với từ thiện xã hội

“Trong thảm họa động đất mới xảy ra tại Nhật Bản, tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam đã quyên góp một tỉ đồng từ các cán bộ, công nhân viên của mình để ủng hộ các nạn nhân. Các nhãn hàng lớn nhất của Mỹ cũng đi đầu trong hoạt động từ thiện và cứu trợ. Hãng sữa Abbott quyên góp 3 triệu USD cho Hội Chữ Thập đỏ Nhật Bản...". Gắn với hoạt động từ thiện luôn đem lại hình ảnh tốt đẹp cho các thương hiệu. Trong các thảm họa thiên nhiên hay khủng hoảng nhân đạo, các thương hiệu làm từ thiện chính là lúc thể hiện trách nhiệm xã hội và “đền đáp” lại xã hội. Tỷ phú Mỹ Warren Buffet, khi quyết định tặng gần 4 tỷ USD cho năm quỹ từ thiện, nói: “Tôi trả lại cho xã hội những gì đã góp nhặt từ xã hội”. Và càng “thực tâm” làm từ thiện thì thương hiệu càng có sức sống lâu bền đối với người tiêu dùng. Chương trình tiếp thị nhân đạo “Loads of Hope” được đánh giá là quan trọng nhất trong lịch sử sáu mươi năm của thương hiệu Tide.

Trên bao bì mới của Tide là khuôn mặt thật của những người mà Tide đã giúp đỡ, trong số đó có các nạn nhân của cơn bão Katrina. Tính đến thời điểm này Tide đã sản xuất được hơn 300 ngàn túi bột giặt sạch cho cư dân đang gặp khó khăn tại New Orleans. Đây cũng được xem là đợt truyền thông hiệu quả nhất của Tide trong nhiều thập kỷ qua.

Cho đến nay, qua nhiều cuộc tranh cãi, xã hội đã chấp nhận hoạt động từ thiện có thể gắn kết với việc làm thương hiệu. Vấn đề là các thương hiệu đó “thành tâm” đến đâu khi đến với những người gặp hoạn nạn.

Mỗi thương hiệu sẽ có một cách làm từ thiện khác nhau, nhưng mục đích cuối cùng là sự hỗ trợ đến được với người gặp hoạn nạn trong thời gian nhanh nhất và hiệu quả nhất.
Chẳng hạn, trong thảm họa động đất mới xảy ra tại Nhật Bản, các nhãn hàng lớn nhất của Mỹ đi đầu trong hoạt động từ thiện và cứu trợ. Hãng sữa Abbott quyên góp 3 triệu USD cho Hội Chữ Thập đỏ Nhật Bản.

Trong khi đó, AT&T và Verizon cung cấp dịch vụ di động và nhắn tin miễn phí cho các thuê bao tại Nhật. Còn hãng Coca-Cola, ngoài 7,3 triệu USD tiền mặt còn cung cấp các máy uống nước miễn phí tại Nhật.

Microsoft cam kết hỗ trợ 2 triệu USD tiền mặt và tặng 90 ngày miễn phí phiên bản Microsoft Exchange online cho các doanh nghiệp, cá nhân tại các khu vực bị thiên tai.

Nhờ vào sự trợ giúp của Twitter trong nỗ lực kêu gọi quyên góp cho người dân Nhật đang gặp nạn, Hội Chữ Thập đỏ Hoa Kỳ đã nhận được hơn 1 triệu USD từ dịch vụ tin nhắn gửi đến từ khắp nước Mỹ...

Nguồn brand

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2011

Những suy nghĩ sai lầm về Thương hiệu - phần 2

Như bài trước chúng tôi đã đưa ra 5 quan điểm về thương hiệu marketing. Hôm nay chúng tôi sẽ tiếp tục đưa ra cho các bạn 5 quan điểm tiếp theo về thương hiệu marketing.

nhung suy nghi sai lam ve thuong hieu
  • Thương hiệu chỉ là Trade-mark?
Có lẽ khái niệm trade-mark mở đầu cho nhận thức của con người đối với thương hiệu. Thực chất ở Trung Quốc những khái niệm tương tự như khái niệm trade-mark của phương Tây đã hình thành từ rất lâu. Bởi về bản chất thương hiệu là sự cam kết chất lượng ngay cả đối với những sản phẩm cùng loại. Thương hiệu là kết quả tất yếu của sự văn minh của loài người. Các quốc gia phát triển có tỷ lệ hàng hóa có thương hiệu cao hơn so với các quốc gia kém phát triển. Cạnh tranh phát triển giúp sản phẩm ngày càng phong phú và thương hiệu hình thành ở cấp độ cao hơn cấp độ trade-mark.

Một trong những khái niệm thể hiện cấp độ nhận thức cao đối với thương hiệu đó là khái niệm Love-mark của Kevin Roberts (CEO của Saatchi & Saatchi). Love-mark với quan điểm mới cho rằng Thương hiệu là hiện thân của các giá trị sản phẩm phục vụ không chỉ cho những nhu cầu vật chất, mà còn gắn với tình cảm và cảm nhận thẩm mỹ đối với thế giới sản phẩm. Trong quá trình hình thành hệ thống lý luận marketing và brand marketing. Nhận thức của chúng ta về thương hiệu hoàn thiện hơn từ lý tính đến cảm tính, từ sản phẩm đến thương hiệu và từ trade-mark đến love-mark.

Kết luận: Thương hiệu (brand) hình thành như một nhu cầu tất yếu của quá trình phát triển văn minh của con người.

  • Khấu hao tài sản cho Thương hiệu?
Giá trị thương hiệu tỷ lệ thuận với số lượng người tiêu dùng mà nó chinh phục. Tài sản này chuyển hóa sang doanh số và lợi nhuận. Đầu tư cho thương hiệu là các khoản chi phí để nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm mới, thiết kế sáng tạo, các hoạt động truyền thông và hoạt hóa thương hiệu. Kết quả là một thương hiệu mạnh xác lập trong một số lượng ngày càng nhiều khách hàng và người tiêu dùng.

Các khoản chi nêu trên được hạch toán vào chi phí và giá thành trong tài khóa kinh doanh được cân đối với doanh số và lợi nhuận cùng kỳ. Tuy nhiên vào cuối kỳ hạch toán thì giá trị thương hiệu lại tăng cao hơn so với thời điểm ban đầu, cùng với doanh số gia tăng tạo ra một thứ lãi kép.

Trong trường hợp nhượng quyền, bên nhượng quyền thường phải đóng cho bên sở hữu thương hiệu một khỏan phí nhượng quyền (royalty), đồng thời các hoạt động hoạt hóa thương hiệu trong địa bàn được nhượng quyền lại giúp làm tăng sự xuất hiện của thương hiệu trong lòng công chúng, và như vậy cũng mang lại hiệu quả kép cho chủ thương hiệu.

Tài sản thương hiệu khác với các loại tài sản vật chất là không bị hao mòn, không bị giảm cấp, trái lại nếu biết sử dụng đúng cách có thể không ngừng làm tăng giá trị của thương hiệu.

Chẳng hạn nếu cho mượn hay cho thuê một thương hiệu để đối tác sử dụng vào những sản phẩm khác nhưng cùng nhóm khách hàng mục tiêu có thể mang lại hiệu quả kép không những tạo uy tín cho sản phẩm mới mà còn làm gia tăng giá trị của thương hiệu ban đầu.

Kết luận: Tài sản Thương hiệu không cần phải khấu hao, nhưng phải biết sử dụng đúng cách.

  • Nhầm lẫn về Lực Đẩy và Lực Kéo
Tất cả các nỗ lực quản trị đều tạo ra hiệu quả Đẩy hoặc Kéo, hoặc cả hai. Một Thương hiệu mạnh có cả hai lực đẩy và lực kéo.

Lực Đẩy xác lập bằng một loạt những nỗ lực phân phối giúp thương hiệu sản phẩm có mặt tại tất cả mọi điểm tiếp xúc với người tiêu dùng tạo ra mức sẵn có sản phẩm (availability) cao nhất. Lực Kéo được hình thành bằng sự xác lập hình ảnh thương hiệu vào tâm trí và trái tim người tiêu dùng và được đo bởi các thông số nhận biết thương hiệu (brand awareness). Một thương hiệu mạnh sẽ được nhiều người biết đến và yêu mến; đồng thời luôn sẵn sàng có mặt ở tất cả những vị trí hay cách thức sẵn sàng nhất cho người tiêu dùng.

Trong thực tế có những thương hiệu được quảng bá tốt nhưng không được phân phối tốt và ngược lại có những thương hiệu được phân phối tốt nhưng người tiêu dùng chưa tin cậy. Chất lượng sản phẩm ở đây còn bao hàm cả hình thức và vẻ đẹp của thương hiệu thông qua tất cả những nỗ lực truyền thông và phân phối có liên quan.

Kết luận: Lực Đẩy tạo ra bởi nỗ lực Phân phối; Lực Kéo tạo ra bởi Quảng bá Thương hiệu đến với công chúng.

  • Lý thuyết Tiếp thị khác nhau cho những sản phẩm khác nhau?
Khác với tiếp thị thông thường không vượt qua những hình thái sản phẩm khác nhau. Brand Marketing vượt ra khỏi ranh giới định nghĩa sản phẩm công nghiệp, sản phẩm tiêu dùng hay sản phẩm dịch vụ.

Khác biệt là giải pháp chứ không phải về lý thuyết và phương pháp luận.

Với tư duy vượt khỏi cách định nghĩa một sản phẩm hiện có. Chẳng hạn với tư duy xem thương hiệu là một chuỗi các vòng đời sản phẩm, người ta xây dựng hình thượng James Bond 007 thông qua một chuỗi phim hành động cùng chủ đề, mỗi bộ phim là một sản phẩm, hoặc mỗi diễn viên đóng vai James Bond cũng được xem là một sản phẩm. Những điều làm nên thương hiệu James Bond là tính cánh nhân vật và những dấu hiệu nhận diện thương hiệu. Các diễn viên từ Sean Conery, Roger Moore cho đến Pierce Brosnan đều chỉ là những vòng đời sản phẩm nối tiếp nhau tạo nên thương hiệu James Bond lừng danh và tiếp tục chinh phục công chúng toàn thế giới.

Kết luận: Lý thuyết Tiếp thị thương hiệu vượt khỏi các hình thái sản phẩm.

  • Cạnh tranh Thương hiệu là sự đối đầu giữa các Thương hiệu?
Một trong những sai lầm về quản trị là nhận thức về cạnh tranh. Tiếp thị thương hiệu không xem cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp hay giữa các thương hiệu. Với tư duy xác lập thương hiệu vào tâm trí và tình cảm của khách hàng và người tiêu dùng, tiếp thị thương hiệu là một tập hợp những nỗ lực tạo ra lực đẩy và lực kéo giúp thương hiệu lao nhanh về phía trước, chinh phục số đông khách hàng và người tiêu dùng. Nỗ lực này lập đi lập lại không ngừng nghỉ, từ ngày này sang ngày khác, khắp nơi, giúp thương hiệu chinh phục khách hàng bằng ấn tượng đẹp dẫn đến hành vi mua hàng và xuất hiện đúng lúc khi khách hàng tiêu dùng và cung cấp những trải nghiệm tuyệt vời làm thỏa mãn nhu cầu. Thương hiệu chiếm lĩnh nhiều người tiêu dùng hơn sẽ chiến thắng và thương hiệu chậm chân hơn phải tạm thất bại. Điều khác biệt duy nhất của cuộc chạy đua này là không có một điểm dừng tuyệt đối.

Trong cạnh tranh thương hiệu không có sự phân biệt giữa lớn hay nhỏ, giữa mới hay củ. Điều quyết định là một chiến lược đúng cho thương hiệu. Tuy nhiên có những điều kiện tất yếu cho thương hiệu phát triển đó là môi trường cạnh tranh lành mạnh, khả năng tài chính tối thiểu và khả năng sáng tạo.

Kết luận: Cạnh tranh thương hiệu là cuộc đua song hành chứ không phải là sự đối đầu trực diện.

Chuyên gia thương hiệu Võ Văn Quang
Theo Doanhnhan360

Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2011

Những suy nghĩ sai lầm về Thương hiệu - phần 1

Thế mạnh của thương hiệu sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào được thị trường cảm nhận như một thương hiệu mạnh sẽ có thể đưa ra mức giá cao hơn, doanh thu của doanh nghiệp đó sẽ cao hơn , thu hút được nhiều khách hàng trung thành hơn.

nhung suy nghi sai lam ve thuong hieu

Thương hiệu Marketing, một trong những phương thức quản lý tiên tiến của con người trong thế kỷ mới, đang được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện. Một trong số các trường phái tiếp thị phát huy hiệu quả cao đó là Brand Marketing (Tiếp thị Thương hiệu) được các tập đoàn đa quốc gia hàng đầu sử dụng thành công tạo ra những lợi thế phát triển mạnh mẽ và bền vững.

Dựa trên lý thuyết tiếp thị thương hiệu và kinh nghiệm thực tiễn, chúng tôi xin cung cấp một số nhận định và phương pháp giúp độc giả có cái nhìn chuẩn xác hơn về thương hiệu phân biệt những sự khác nhau rất tinh tế giữa tiếp thị và tiếp thị thương hiệu.

  • Thương hiệu chỉ là một bộ phận của Sản phẩm?
Có rất nhiều định nghĩa về Thương hiệu (Brand). Trong phạm vi bài viết này, chúng ta không tranh luận về các định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên điều cần thiết cho mọi người và cho các nhà doanh nghiệp đó là cần xem thương hiệu như một thực thể bao trùm, một tập hợp mẹ mà trong đó sản phẩm là một bộ phận cấu thành.

Trong qua trình nghiên cứu và thực tiễn, chúng tôi có đúc kết một định nghĩa mới cho sản phẩm: “sản phẩm là một tập hợp các lợi ích”, tập hợp này bao gồm các “lợi ích lý tính’ và các “lợi ích cảm tính”, hay nói một cách dễ hiểu hơn là “các lợi ích trực tiếp” và “lợi ích gián tiếp”.

Gọi là lợi ích gián tiếp thay cho khái niệm lợi ích cảm tính (emotional benefits) là không chính xác lắm. Ví dụ khi chúng ta mua một sản phẩm là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thì phần lợi ích cảm tính sẽ được thụ hưởng trước, đó là cảm giác an toàn (nấc nhu cầu thứ 2 theo Maslow) còn lợi ích lý tính (rational benefits) tức giá trị bằng tiền bằng của hợp đồng sẽ được thụ hưởng sau vào lúc kết thúc hợp đồng bảo hiểm.

Còn thương hiệu bao trùm tất cả các lợi ích sản phẩm nói trên đồng thời còn có cả hệ thống nhận diện và hình ảnh. Hay nói đơn giản, Thương hiệu là sự cam kết về chất lượng và sự phân biệt chất lượng khác nhau giữa các sản phẩm trong quá trình cạnh tranh.

Chính vì thế mà một trong những thuộc tính cơ bản của thương hiệu là “sự khác biệt”, thuộc tính này được cụ thể hóa trong quản trị bằng các giải pháp phân khúc & định vị. Trong khi về mặt lý tính, chức năng hay vật chất thì các sản phẩm có thể vẫn giống nhau.

Kết luận: Thương hiệu không phải là một bộ phận của sản phẩm mà là thực thể bao trùm cả sản phẩm cộng với các nhân tố tạo ra sự khác biệt được công nhận.

  • Thương hiệu chỉ là những lời Quảng cáo bóng bẩy?
Khái niệm Quảng cáo hình thành trong thời đại phát triển các phương tiện truyền thông của thế kỷ hai mươi. Từ radio, đến truyền hình, điện thoại, và gần đây là internet và các phương tiện tích hợp. Quảng cáo là sự chuyển tải thông điệp của sản phẩm và thương hiệu qua các phương tiện (media) thích hợp và hiệu quả nhắm đến công chúng và khách hàng. Vì vậy quảng cáo không liên quan gì đến bản chất định nghĩa thương hiệu. Bên trong một thương hiệu đích thực phải có một sản phẩm đích thực dành cho một nhóm khách hàng cụ thể. Không có thương hiệu mạnh nào mà không có sản phẩm tốt. Ngay cả các thương hiệu chứng nhận (certificating brand) như “Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao” hay “Kỷ lục Guiness” sản phẩm của nó là quy trình bình chọn nghiêm túc và minh bạch, đó chính là sản phẩm tốt.

Những lời quảng cáo bóng bẩy có thể thu hút công chúng đến với thương hiệu trong lần đầu tiên, hiệu quả của nó là tạo một số lượng khách hàng dùng thử (trial user).

Tuy nhiên nếu sản phẩm không tốt thì khách hàng sẽ không quay lại lần thứ hai, và do đó sẽ không có repeated user (khách hàng thường xuyên). Những người này sẽ đi tìm một thương hiệu khác đáng tin cậy hơn hoặc quay lại những thương hiệu sản phẩm đã chọn ban đầu.

Quảng cáo hay tạo ra một lực hút, hoặc lực kéo rất lớn đối với thương hiệu tạo ra 51% cơ hội thành công cho doanh nghiệp. Phần còn lại 49% là những nỗ lực phân phối và thúc đẩy bán hàng làm đối đa hóa khả năng thành công của Thương hiệu, mang lại doanh thu và lợi nhuận bền vững.

Kết luận: Không có thương hiệu mạnh mà bên trong nó không có sản phẩm tốt.

  • Thương hiệu được bảo vệ chủ yếu bởi hệ thống pháp lý?
Hệ thống pháp lý quốc gia và các công ước quốc tế xác lập quyền bảo vệ chính đáng và lâu dài cho thương hiệu. Tuy nhiên đó chưa phải là cách thức bảo vệ thương hiệu hiệu quả nhất. Thương hiệu sau khi hình thành và được pháp luật bảo hộ, thực chất còn phải đi một chặng đường dài và rộng khắp, mới đến điểm đích của nó, là đến với hàng triệu thậm chí hàng tỷ khách hàng và người tiêu dùng.

Như vậy người tiêu dùng là người bảo vệ thương hiệu hữu hiệu nhất. Đối với các thương hiệu rơi vào tình huống bị làm giả sản phẩm hay làm nhái nhãn hiệu. Bên cạnh những nỗ lực hỗ trợ của các cơ quan chức năng tiến hành những biện bảo vệ cần thiết về mặt pháp lý, doanh nghiệp cần có những quảng bá cụ thể giúp người tiêu dùng phân biệt sản phẩm thật với sản phẩm giả, phân biệt nhãn hiệu chính hãng và nhãn hiệu giả mạo. Một thương hiệu được đầu tư nghiêm túc và có tên tuổi sẽ được pháp luật bảo hộ mạnh mẽ hơn một thương hiệu mờ nhạt và không chuyên nghiệp. Chẳng hạn khi doanh nghiệp chưa xây dựng một tiêu chí rõ ràng và nhất quán về hệ thống nhận diện thương hiệu (brand identity system), các cơ quan chức năng sẽ thiếu căn cứ và cơ sở pháp lý để phân biệt với những thương hiệu và sản phẩm giả mạo. Một hệ thống nhận diện thương hiệu đầy đủ phải bao gồm: thiết kế tên nhãn hiệu, thiết kế biểu trưng, logo, khẩu hiệu, chuẩn màu sắc, chuẩn kích thước và rất nhiều mẫu chuẩn và phương thức nhận diện khác. Như vậy những toan tính làm giả sẽ gặp khó khăn hơn và việc phân định thật hay giả cũng dễ dàng hơn.

Kết luận: Cách thức bảo vệ thương hiệu hiệu quả nhất là đầu tư xây dựng một thương hiệu mạnh và chuyên nghiệp.

  • Thương hiệu chỉ là chiến lược kinh doanh ngắn hạn?
Áp lực của kinh doanh là lợi nhuận. Vấn đề ở đây là lợi nhuận trước mắt hay lợi nhuận thường xuyên. Nếu doanh nghiệp đặt kỳ vọng kiếm lời một lần, hay lợi nhuận trước mắt thì có lẽ không cần thiết phải xây dựng thương hiệu. Đó là tư duy của người đi buôn (trader) hay người làm gia công. Thương hiệu chỉ phát huy tác dụng khi doanh nghiệp xác định mục tiêu lợi nhuận thường xuyên, phát triển ổn định và bền vững. Thương hiệu chỉ phát huy tối đa vai trò của mình trong một môi trường cạnh tranh tốt.

Trước khi đặt ra những mục tiêu về doanh thu và lợi nhuận, cần thiết phải cụ thể hóa mục tiêu cho thương hiệu. Từ đó các giải pháp quản trị sẽ cụ thể và hiệu quả hơn.

Kết luận: Thương hiệu phát huy tối đa vai trò của nó trong chiến lược phát triển lâu dài và ổn định trong một môi trường cạnh tranh.
  • Chưa phân biệt giữa Tiếp thị và Tiếp thị Thương hiệu.
Tiếp thị là phương cách mang Sản phẩm đến với khách hàng. Tiếp thị Thương hiệu là phương cách mang Thương hiệu đến với người tiêu dùng. Tiếp thị Thương hiệu (brand marketing) là hệ thống quản trị được áp dụng tại các tập đoàn thương hiệu hàng đầu thế giới. Nhận thức của “tiếp thị thương hiệu” vì vậy có những sự khác biệt rất tinh tế so với khái niệm tiếp thị mà nhiều người vẫn hình dung.

Những sự khác biệt này xuất hiện từ nhận thức, tư duy, đến chiến lược và tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp. Chẳng hạn hầu hết các nhà quản trị có đầu óc marketing đều nói rằng “tiếp thị là bán cái khách hàng cần chứ không phải bán cái mình có”. Tuy nhiên trong thực tế quản trị thì nhà tiếp thị bị áp đặt sản phẩm đã được hình thành từ bộ phận kỹ thuật hay bộ phận R&D. Tiếp thị thương hiệu cho phép định nghĩa một thương hiệu và một sản phẩm trước khi hoặc song song với qúa trình nghiên cứu. Nhà tiếp thị được trao quyền lãnh đạo đối với nhóm nghiên cứu phát triển sản phẩm.

Một dẫn chứng khác là khái niệm “định vị sản phẩm” và “quảng bá sản phẩm”. Đây là những định nghĩa sai trong tiếp thị thương hiệu. “Định vị Thương hiệu” bao gồm 4 nhóm giải pháp bao gồm: định vị sản phẩm, định vị giá, định vị phân phối và định vị hình ảnh thương hiệu. Quảng bá sản phẩm không làm nêu bật sự khác biệt giữa một thương hiệu A với thương hiệu B trong cùng một dòng sản phẩm.

Một sự khác biệt nữa là Tiếp thị Thương hiệu nhắm đến một chuỗi các vòng đời sản phẩm nối tiếp nhau chứ không xét đến một vòng đời sản phẩm duy nhất.

Kết luận: Có rất nhiều sự khác biệt rất tinh tế giữa tiếp thị và tiếp thị thương hiệu.

Chuyên gia thương hiệu Võ Văn Quang
Nguồn Doanhnhan360

Thứ Sáu, 21 tháng 5, 2010

Những thách thức trong việc tạo dựng một thương hiệu có giá trị - phần 2

Việc xây dựng một thương hiệu trong môi trường kinh doanh hiện nay là không dễ dàng. Hình ảnh những nhà quản lý nỗ lực xây dựng một thương hiệu mạnh giống như người chơi golf trên một sân chơi gồ ghề với những bể lắng cát sâu, những khúc quanh đầy góc cạnh và những vùng nước cản rộng lớn. Thật khó có thể đánh trúng được bóng trong điều kiện như vậy. Ngoài ra, những người tạo dựng thương hiệu còn có thể bị vấp phải những rào cản, những áp lực lớn cả từ bên trong lẫn bên ngoài. Để phát triển hiệu quả các chiến lược thương hiệu, cần phải hiểu biết về những áp lực và rào cản này.

Để đạt được điều này, cần phải xem xét 8 nhân tố khác nhau dẫn đến việc tạo dựng thương hiệu trở nên khó khăn. Nhân tố thứ nhất là áp lực cạnh tranh về giá có ảnh hưởng trực tiếp đến động cơ xây dựng thương hiệu. Nhân tố thứ hai là sự phát triển nhanh chóng của các đối thủ cạnh tranh dẫn đến giảm sự lựa chọn định vị thị trường và khiến việc thực hiện trở nên kém hiệu quả hơn. Nhân tố thứ ba và thứ tư là sự phân tán của truyền thông, thị trường, sự phong phú và đa dạng của nhiều thương hiệu và sản phẩm.


Sự phức tạp của các chiến lược thương hiệu

Trước đây, một thương hiệu là một thực thể đơn lẻ và la đối tượng trọng tâm cần được củng cố và phát triển đối với các nhà quản lý thương hiệu. Ngày nay tình thế đã thay đổi. Sự ra đời của những thương hiệu phụ, thương hiệu mở rộng, thương hiệu về thành phần sản phẩm, các thương hiệu về nhà tài trợ và các thương hiệu công ty khiến cho các nhà quản lý thương hiệu phải bận rộn hơn nhiều. Như trường hợp của thương hiệu Coke là một ví dụ. Biểu trưng Coke được trông thấy trên hàng chục sản phẩm, bao gồm Diet Cherry Coke, Caffein Free Diet Coke, Coke Classic … Tuy nhiên, ở mỗi định vị thị trường, thương hiệu Coke lại mang một hình ảnh khác nhau. Ở các cửa hàng rau quả, Coke được coi là một thương hiệu sản phẩm; tại các sự kiện thể thao, nó là một thương hiệu tài trợ; và tại các cộng đồng có các nhà máy đóng chai sản phẩm thì Coke là một thương hiệu công ty. Sự phức hợp này làm cho việc quản lý thương hiệu trở nên khó khăn. Ngoài việc phải thiết kế được đặc trưng thương hiệu, các nhà quản lý thương hiệu cần phải hiểu được vai trò của thương hiệu trong từng bối cảnh. Ngoài ra, họ cũng cần phải làm rõ về mặt chiến lược và nâng cao nhận thức của khách hàng về những mối quan hệ giữa các thương hiệu (thương hiệu công ty với thương hiệu phụ, thương hiệu mở rộng …)


Tại sao lại có sự phức hợp này? Như đã phân tích ở trên, sự xuất hiện của một thị trường hay sản phẩm mới thường dẫn tới sự ra đời của một thương hiệu mới hay một thương hiệu phụ. Từ đó lại phát sinh sự phân tán thị trường và sự sinh sôi nảy nở của các thương hiệu. Tuy nhiên, cũng cần phải nhắc tới một nhân tố khác là chi phí. Các công ty thường có xu hướng sử dụng các thương hiệu sẵn có trong những bối cảnh và có vai trò khác nhau bởi việc xây dựng một thương hiệu mới vô cùng tốn kém.

Xu hướng thay đổi các chiến lược

Đôi khi, trong các công ty cũng xảy ra những áp lực nội bộ lớn liên quan đến việc thay đổi đặc trưng và phương pháp thực hiện chương trình phát triển thương hiệu trong khi đặc trưng cũ vẫn còn hiệu quả hay còn chưa hết tiềm năng. Những thay đổi kiểu này có thể làm giảm giá trị hay thậm chí làm mất đi giá trị thương hiệu. Hầu hết các thương hiệu lớn như Marlboro, Volvo và Motel 6 đều có một đặc điểm chung: một thương hiệu đều phát triển một đặc trưng rõ ràng và bất biến trong một thời gian rất dài. Như vậy, một thương hiệu mạnh cần phải gìn giữ được các đặc trưng quan trọng của mình và tăng cường nhận thức của công chúng thông qua những hình ảnh rõ ràng về đặc trưng thương hiệu.

Xu hướng đi ngược lại sự đổi mới

Một thực tế là có rất nhiều công ty đã quá chú trọng đến việc phát triển thương hiệu mà không lưu tâm đến việc đầu tư chất xám và vốn để đổi mới sản phẩm và dịch vụ một cách thực sự toàn diện. Hiển nhiên việc đầu tư này luôn không chỉ tốn kém và mạo hiểm mà còn dẫn đến việc giảm lợi nhuận về mặt ngắn hạn. Ngoài ra, các nhà quản lý thương hiệu có thể đang quá tự mãn với những thành công của hiện tại và quá khứ, mặt khác do luôn phải luôn bận tâm đến những vấn đề thường trực hằng ngày. Do đó họ không nhìn thấy rõ những diễn biến và thay đổi của môi trường cạnh tranh. Do bỏ qua và không nắm được những diễn biến trên thị trường cũng như những bước phát triển về công nghệ, các nhà quản lý làm cho các thương hiệu của mình ngày càng mờ nhạt, mất đi động lực cạnh tranh. Kết quả là sức mạnh cạnh tranh của thương hiệu dần dần bị suy yếu. Đây chính là cơ hội tốt để các đối thủ cạnh tranh, vốn không có gì nhiều để mất, xâm nhập thị trường và chiến thắng với những nỗ lực đổi mới của mình.

Đơn cử như trường hợp Weight Watchers, một trong những thương hiệu thành công rực rỡ trong những năm 80. Weight Watchers đã xây dựng được những phương pháp kiểm soát trọng lượng cơ thể lý tưởng và đã tạo ra một hãng kinh doanh có tổng giá trị lên tới 1,5 tỷ đô la. Nhưng đến cuối những năm 80, các khách hàng đã bắt đầu bớt quan tâm đến việc kiểm soát trọng lượng và thay bằng các chương trình ăn kiêng có lợi cho sức khỏe. Đi tiên phong trong việc thiết kế ra mô hình ăn kiêng này là thương hiệu Healthy Choice. Câu hỏi đặt ra là tại sao hãng Weight Watchers, một công ty có nguồn lực và có kiến thức thị trường dồi dào hơn lại không phải là người đi đầu? Lý do chủ yếu là Weight Watchers đang là một thương hiệu thành công và công ty không muốn làm giảm doanh thu bằng việc đầu tư vào một vị trí trong thị trường mới,

Áp lực đầu tư ở nơi khác

Vị trí của một thương hiệu hùng mạnh là một vấn đề chiến lược tiềm năng bởi nó thu hút cả sự tự mãn và lòng tham. Khi một thương hiệu được coi là hùng mạnh sẽ xuất hiện xu hướng giảm đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh trọng tâm để tăng cường các hoạt động kinh doanh ngắn hạn hay đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh mới. Tuy nhiên, ngươi ta luôn lầm tưởng rằng thương hiệu không bị ảnh hưởng nếu ít được hỗ trợ và rằng có nhiều cơ hội đầu tư khác hấp dẫn hơn. Cuối cùng là các lĩnh vực kinh doanh mới thu hút nhiều nguồn lực công ty lại thường không thành công do chúng có những đòi hỏi quá cao trong khi khả năng của các công ty để tổ chức và quản lý những lĩnh vực kinh doanh mới lại chỉ có hạn.

Xerox là một trường hợp điển hình về một thương hiệu mạnh đánh mất vị trí của mình do đầu tư thiếu hợp lý vào những lĩnh vực kinh doanh quan trọng của mình. Vào những năm 1960, Xerox là vua của ngành sản xuất máy photocopy và thị phần của nó gần như đạt 100%. Trở ngại của các đối thủ muốn gia nhập thị trường cạnh tranh là Xerox có một thương hiệu nổi bật, một bộ văn bằng sáng chế và một số lượng khách hàng lớn tham gia vào các chương trình thuê mua và tổ chức dịch vụ. Tuy nhiên, thay vào việc duy trì các lợi thế, bảo vệ sức cạnh tranh của thương hiệu và phát triển công nghệ mới, Xerox lại chuyển sang đầu tư cho một lĩnh vực khác hẳn: “Văn phòng cho tương lai”. Kết quả là Xerox đã bị thất bại về tay các đối thủ Savin, Kodak và Canon, những thương hiệu sản xuất công nghiệp cung cấp những sản phẩm có tính sáng tạo hơn, chất lượng hơn và giá cả phải chăng hơn. Như vậy, một trong những lý do dẫn đến việc đánh mất vị trí của thương hiệu trên thị trường là do lòng tham muốn tìm đến những lĩnh vực kinh doanh béo bở hơn, khi thương hiệu đã đạt đến một tầm cao nhất định.

Các áp lực về kết quả kinh doanh ngắn hạn

Những áp lực đạt được những kết quả kinh doanh ngắn hạn thường gây cản trở đến những đầu tư vào thương hiệu, đặc biệt là ở Mỹ. Người sáng lập ra hãng Sony, ông Akio Morita cho rằng phần lớn các nhà quản trị công ty ở Mỹ đều mong muốn tạo ra lợi nhuận nhanh chóng hơn là cố gắng làm cho sản phẩm có sức cạnh tranh lâu dài. Một nghiên cứu tại các công ty ở lĩnh vực công nghiệp lớn như dệt may, thép, điện tử gia dụng, chế tạo máy bay và chế tạo ô tô đã kết luận rằng những sức ép thái quá về lợi nhuận tức thời mà hy sinh những cơ hội lâu dài là một nhân tố chủ yếu gây nên sự suy giảm khả năng cạnh tranh của các hãng kinh doanh Mỹ so với Nhật Bản và Châu Âu.

Sau đây là một số lý do tại sao việc tập trung ngắn hạn lại chỉ có ở những nhà quản lý Mỹ. Thứ nhất, ở Mỹ, người ta công nhận rộng rãi rằng giá trị tối đa của cổ đông là mục tiêu cao nhất của công ty. Sự công nhận này được đi kèm với nhận thức rằng các cổ đông, những người chủ của công ty luôn theo dõi sát sao tình hình thu nhập trong quý. Điều này một phần do họ thiếu thông tin và hiểu biết về chiến lược lâu dài của công ty, một phần là do họ không đánh giá được các tài sản vô hình. Do đó, các nhà quản lý chỉ cố gắng để tình hình hoạt động kinh doanh hiện tại của công ty trông có vẻ tốt mà thôi.

Thứ hai, cách thức quản lý cũng thể hiện xu hướng ngắn hạn của các công ty. Các hệ thống ngân sách hàng năm thường chỉ tập trung vào những chỉ tiêu doanh số, chi phí và lợi nhuận ngắn hạn. Kết quả là những chương trình xây dựng thương hiệu thường bị hy sinh để đạt được những mục tiêu này. Việc lập kế hoạch trở thành một hoạt động quá thường xuyên nhưng lại chỉ xem xét những dữ liệu tài chính ngắn hạn chứ không phải là tầm nhìn chiến lược. Ngoài ra, các công ty Mỹ còn có những xu hướng luân chuyển các nhà quản lý qua quá trình tổ chức. Đây cũng là một lý do khiến cho tầm nhìn dài hạn trở nên ít quan trọng hơn những kết quả trước mắt trong sự nghiệp của một nhà quản lý do các nhà quản lý luôn phải chịu áp lực hoạt động vỉ những mục tiêu đem lại lợi nhuận nhanh chóng và hữu hình.

Theo Abviet

Thứ Năm, 20 tháng 5, 2010

Những thách thức trong việc tạo dựng một thương hiệu có giá trị - phần 1

Việc xây dựng một thương hiệu trong môi trường kinh doanh hiện nay là không dễ dàng.

Hình ảnh những nhà quản lý nỗ lực xây dựng một thương hiệu mạnh giống như người chơi golf trên một sân chơi gồ ghề với những bể lắng cát sâu, những khúc quanh đầy góc cạnh và những vùng nước cản rộng lớn. Thật khó có thể đánh trúng được bóng trong điều kiện như vậy. Ngoài ra, những người tạo dựng thương hiệu còn có thể bị vấp phải những rào cản, những áp lực lớn cả từ bên trong lẫn bên ngoài. Để phát triển hiệu quả các chiến lược thương hiệu, cần phải hiểu biết về những áp lực và rào cản này. Để đạt được điều này, cần phải xem xét 8 nhân tố khác nhau dẫn đến việc tạo dựng thương hiệu trở nên khó khăn. Nhân tố thứ nhất là áp lực cạnh tranh về giá có ảnh hưởng trực tiếp đến động cơ xây dựng thương hiệu. Nhân tố thứ hai là sự phát triển nhanh chóng của các đối thủ cạnh tranh dẫn đến giảm sự lựa chọn định vị thị trường và khiến việc thực hiện trở nên kém hiệu quả hơn. Nhân tố thứ ba và thứ tư là sự phân tán của truyền thông, thị trường, sự phong phú và đa dạng của nhiều thương hiệu và sản phẩm.


Những thách thức đối với việc tạo dựng một thương hiệu có giá trị

  • Thị trường hầu hết các sản phẩm đang ở xu hướng bão hòa
  • Cạnh tranh ngày càng gia tăng và phức tạp
  • Khó khăn trong việc tạo ra khác biệt
  • Mức độ trung thành ngày càng giảm trong nhiều chủng loại sản phẩm
  • Thế mạnh thương mại của hệ thống phân phối ngày càng gia tăng
  • Các kênh truyền thông, quảng cáo ngày càng phân tán
  • Sức ép tìm kiếm lợi ích ngắn hạn cho tổ chức
  • Chi phí dành cho xúc tiến bán hàng ngày càng tăng

Những nhân tố còn lại phản ánh những áp lực cản trờ từ bên trong tổ chức đối với việc tạo dựng thương hiệu. Nhân tố thứ năm là mong muốn thay đổi chiến lược thương hiệu mạnh. Việc này là một việc làm âm thầm và lâu dài vì về mặt quản lý nó giống như hành động tự bắn vào chân mình. Nhân tố thứ sáu và thứ bảy là những thành kiến về việc tổ chức chống lại sự đổi mới và những áp lực về chi phí đầu tư. Đây là những thách thức thực sự to lớn đối với việc tạo dựng thương hiệu mạnh. Chúng có thể là kết quả của sự thiếu tầm nhìn dài hạn và kiến thức về quản trị giá trị thương hiệu. Lý do cuối cùng là áp lực tạo ra những kết quả ngắn hạn về doanh thu và lợi nhuận theo từng tháng, quý, năm có thể là một rào cản đối với việc tạo dựng và phát triển thương hiệu, một việc cần có chiến lược, kế hoạch dài hạn với những nỗ lực không ngừng nghỉ. Do đó có một nghịch lý là những vấn đề nghiêm trọng mà các nhà tạo dựng thương hiệu hiện phài đối mặt lại xuất phát từ các thế lực bên trong và từ những thành kiến trong tổ chức quản lý.
Trên thực tế, nhiều thương hiệu không thành công trong việc phát huy những tiềm năng hay duy trì giá trị của mình bởi không nhận diện và vượt vượt qua được những áp lực và rào cản này.

Áp lực cạnh tranh về giá

Hầu hết mọi công ty đều chịu áp lực cạnh tranh về giá. Trong tất cả các ngành công nghiệp - từ máy tính đến ô tô, nhà hàng, hàng không đến đồ uống - bức tranh về thị trường đến nay vẫn thế: cạnh tranh về giá vẫn đóng vai trò trung tâm, chịu tác động và sức ép từ lực lượng bán lẻ, những nhóm khách hàng nhạy cảm về giá, sự suy thoái thị trường (thường do những tác nhân mới xuất hiện hay các đối thủ cạnh tranh).
Trong một cuộc thảo luận về giá trị thương hiệu, các giám đốc điều hành được yêu cầu giơ tay nếu ngành của họ là một trong những ngành mà sự cạnh tranh khốc liệt về giá cả không phải là thông lệ hay chưa phải là một thông lệ. Trong số hàng ngàn giám đốc điều hành tham dự các cuộc giải trình ngày hôm đó chỉ có một người giơ tay – đó là giám đốc Kênh đào Panama!

Các nhà bán lẻ đang ngày càng trở nên hùng mạnh theo thời gian và họ đã sử dụng thế mạnh này để gây áp lực về giá. Một thập kỷ trước, thông tin phần lớn được các nhà sản xuất quản lý. Trong khi đó, các nhà bán lẻ hiện nay đang thu thập được rất nhiều thông tin và phát triển các mô hình sử dụng những thông tin này. Các nhà cung cấp, đặc biệt là những người đứng thứ ba hay thứ tư trong số những người có tỷ lệ thị phần với cấp độ trung thành thương hiệu trung bình, là những người chịu áp lực lớn nhất về giá hàng hóa.

Xúc tiến bán hàng vừa là một tác nhân vừa là một dấu hiệu về tập trung giá cả. Trong những năm 1950, khoảng 10% của hoạt động quảng cáo được dành cho các hoạt động tăng giá hàng hóa. Trong những ngày đó, hoạt động phân phối rất đơn giản, các nhà bán lẻ quan tâm nhiều đến việc xây thêm kho hàng hơn là quan tâm đến lợi nhuận cận biên. Khi đó, thị trường đang trong giai đoạn tăng trưởng. Ngày nay, khi mà hầu hết các thị trường sản phẩm đều bước vào giai đoạn bão hòa thì hơn 75% số tiền dành cho chi phí tiếp thị được dùng cho các hoạt động xúc tiến bán hàng.

Thực tế trong kinh doanh đã chứng tỏ rằng nhân tố thiết yếu để đạt được sự thành công là duy trì được chi phí thấp. Do đó, các công ty thường xuyên phải tìm cách cắt giảm biên chế, giảm quy mô và cắt giảm toàn bộ các chi phí không cần thiết khác. Vậy thì chuyện gì sẽ xảy ra với những người ủng hộ việc đầu tư cho thương hiệu dưới hình thức nghiên cứu thị trường và các hoạt động xây dựng thương hiệu? Những người này chắc chắn sẽ bị chỉ trích bởi cái gọi là văn hóa “tiết kiệm” chi phí của công ty vì việc đầu tư vào giá trị thương hiệu luôn được coi là hết sức tốn kém.

Sự sinh sôi của các đối thủ cạnh tranh

Những đối thủ cạnh tranh đáng gờm thâm nhập vào thị trường từ mọi phía. Các đối thủ mới không chỉ tạo sức ép về giá, thị trường có nhiều thương hiệu hơn, điều đó có nghĩa là việc tìm được chỗ đứng cho thương hiệu trở nên khó khăn hơn. Theo đó, mỗi thương hiệu có xu hướng bị đặt vào những vị trí nhỏ hẹp hơn. Các thị trường được nhắm đến trở nên nhò hơn và những thị trường không nhắm tới được lại phình to hơn. Những nỗ lực để tìm thấy một đoạn thị trường rộng lớn trở nên khó khăn hơn trong bối cảnh các thương hiệu tràn ngập trên thị trường. Hơn nữa, một số đối thủ cạnh tranh sẵn sàng chấp nhận rủi ro để tìm phương thức hoạt động mới. Hậu quả có thể dẫn đến sự mất ổn định của môi trường cạnh tranh. Bên cạnh đó, trên thị trường cũng xuất hiện một xu hướng là các đối thủ sẽ bắt chước bất cứ phương thức hoạt động nào đang đạt được sự thành công.

Sự phân tán của thị trường và hoạt động truyền thông

Nếu như trước đây, một thương hiệu có thể dễ dàng đạt được hiệu quả qua các phương tiện truyền thông bởi khi đó chỉ có một số rất ít sự lựa chọn cũng như phương tiện để quảng bá hình ảnh thương hiệu. Các thị trường tập trung còn hết sức phổ biến và chưa có các đoạn thị trường nhỏ. Trong khi đó, các nhà quản lý thương hiệu hiện nay phải đối mặt với một môi trường rất khác mà ở đó khó có thể đạt được sự nhất quán cần thiết để xây dựng và duy trì một thương hiệu mạnh.

Ngày nay, một danh mục dài với nhiều sự lựa chọn phương tiện truyền thông, bao gồm truyền hình, quảng cáo trên Internet, tiếp thị trực tiếp, tài trợ và rất nhiều phương thức khác được sáng tạo và thực hiện hằng ngày. Việc làm thế nào để các thông điệp được gởi đi qua những phương tiện truyền thông này không làm suy yếu thương hiệu đang trở thành một thách thức thật sự, đặc biệt là khi có sự kết hợp của các phương tiện xúc tiến bán hàng. Một quá trình xúc tiến bán hàng phải bao gồm một đợt tặng quà khách hàng và giảm giá mới mong tạo được tiếng vang. Ví dụ, nếu đặc trưng của một thương hiệu nào đó dựa trên chất lượng, có nghĩa là giá cả phải cao tương ứng tương ứng hoặc ít ra là phải giữ ở mức ổn định. Nhưng nó sẽ nảy sinh mâu thuẫn nếu thương hiệu đó cần phải cung cấp hàng hóa với giá rẻ hơn để có được doanh số cao hơn. Hơn nữa, để đạt được doanh thu và sản lượng dự kiến, công ty phải tiến hành cả các chương trình xúc tiến bán hàng (như tặng thêm hàng, mua hai tặng một, hạ giá …) khiến cho nỗ lực xây dựng một thương hiệu khó có thể được thực hiện suông sẻ.

Việc điều phối càng trở nên khó khăn hơn do các hoạt động hỗ trợ thương hiệu thường được các tổ chức và cá nhân khác nhau tiến hành để đạt được những triển vọng và mục tiêu khác nhau. Các hoạt động như quảng cáo, PR, tài trợ, khuyến mãi, triễn lãm, dự trữ hàng hóa, tiếp thị trực tiếp, thiết kế bao bì, thiết kế định danh doanh nghiệp hay đặc trưng thương hiệu (corporate identity) đều có ảnh hưởng trực tiếp đến thương hiệu. Đôi khi chính những đơn vị trong nội bộ một công ty cũng sử dụng một hoặc nhiều trong những hình thức này làm phương tiện cạnh tranh, điều đó có thể dẫn đến sự thiếu phối hợp và xung đột mục tiêu.

Thêm vào đó, các công ty đang chia dân cư thành những thị trường mục tiêu nhỏ hơn và có nhiều tiềm năng hơn. Công việc này được thực hiện thông qua những phương tiện truyền thông và những kênh phân phối đặc biệt. Bên cạnh đó, họ còn phát triển những đặc trưng thương hiệu khác nhau cho những đoạn thị trường mới. Tuy nhiên, việc phát triển và quản lý các đặc trưng khác nhau cho cùng một thương hiệu luôn mang đến những rắc rối cho cả thương hiệu và khách hàng do các thông điệp được gửi đi trên các phương tiện truyền thông hay bị chồng chéo nhau khiến khách hàng biết đến rất nhiều đặc trưng cho cùng một thương hiệu. Như vậy càng có nhiều đặc trưng thương hiệu khác nhau thì việc điều phối để phát triển một thương hiệu mạnh càng trở nên khó khăn hơn.

Theo Abviet

Tạo dựng một thương hiệu mạnh với giá rẻ - Phần 2

Bạn cần có thương hiệu mạnh và do đó bạn không cần phải cạnh tranh bằng giá cả. Chúng tôi cũng không phản đối chuyện này. Tuy nhiên, chúng tôi không nói với bạn rằng bạn không thể xây dựng một thương hiệu mạnh khi bạn cạnh tranh bằng giá cả.


Thực tế là bạn vẫn có thể có một thương hiệu mạnh khi bạn cạnh tranh bằng giá. Không có gì nhầm lẫn ở đây, bạn sẽ là thương hiệu rẻ nhất trên thị trường. Vì lý do nào đó mà người ta có xu hướng nghĩ rằng những thương hiệu với giá vượt trội mới là những thương hiệu được phát triển. Chúng tôi nghĩ khác.

Và chúng tôi cho rằng một thương hiệu thành công là thương hiệu chiếm ưu thế trên thị trường của lĩnh vực ngành nghề liên quan và đem lại mức lợi nhuận hấp dẫn, bất kể đó là thương hiệu có giá bán vượt trội hay bình dân. Tất nhiên, nếu có thể bán với giá cao hơn thì thật tuyệt vời, nhưng những sản phẩm giá rẻ vẫn có thể trở thành thương hiệu mạnh.

Khi chúng tôi gặp Vikas Goel, chủ tịch của eSys Technologies, ông đã nói với chúng tôi rằng về cơ bản có 2 loại hình doanh nghiệp mà người ta có thể điều hành, một là các doanh nghiệp tập trung vào cải tiến sản phẩm, và loại kia tập trung vào hiệu quả. Vikas hiểu rõ eSys cần tập trung vào việc tận dụng từng ly từng tí để nâng cao hiệu suất trong từng quy trình riêng lẻ. Điều này giải thích tại sao eSys có thể bán được máy tính cá nhân - do họ sản xuất tại nhà máy tại bắc Changi, Singapore - chỉ với giá S$399 mà vẫn thu được lợi nhuận.

Chúng tôi cho rằng nếu muốn thì eSys hoàn toàn có đủ tiềm năng để trở thành một thương hiệu mạnh trong ngành máy tính khi họ xây dựng trên mức giá bán rẻ, còn theo cách nói của Vikas thì là trên nền tảng hiệu suất. Những gì khiến người mua ngần ngại là không đáng kể: máy tính của eSys bán giá rẻ ngay cả khi chúng được sản xuất tại một địa điểm đòi hỏi chi phí cao tại Singapore.

Có nhiều thương hiệu đã được hình thành với công thức như trên: giá rẻ. Bí quyết ở đây là: bạn phải đủ sức đứng vững trước sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ đến từ các nước có chi phí thấp như Brazil, Nga, Trung Quốc và Ấn Độ. Nếu muốn là một thương hiệu mạnh có giá cạnh tranh, bạn cần có lợi thế chi phí mang tính cấu trúc, nghĩa là lợi thế chi phí của bạn cần được gắn liền với mô hình hoạt động của bạn và là một bộ phận cấu thành không thể tách rời với cơ sở hạ tầng của bạn.

Dịch chuyển hoạt động của bạn đến một nước có chi phí thấp, chèn ép các nhà cung cấp và cắt giảm tiền lương của nhân công đều không phải là những lợi thế chi phí mang tính cấu trúc, bởi vì đơn giản đó không phải là lợi thế, hơn nữa những điều này có thể bị đối thủ bắt chước dễ dàng.

Chúng tôi sẽ chia sẻ với bạn những câu chuyện thành công của các thương hiệu lớn mạnh trên phạm vi toàn cầu mà họ đã xây dựng trên cơ sở giá rẻ và những lợi thế chi phí mang tính cấu trúc độc đáo của họ. Từ đó bạn có thể xác định rằng liệu có thể có một lộ trình nào dẫn từ giá rẻ đến thương hiệu mạnh và phù hợp với công ty của bạn hay không.

Dell

Năm 1984, Dell đã là công ty đầu tiên bán sản phẩm máy tính cá nhân trực tiếp đến các khách hàng sử dụng sau cùng. Lúc đó, nhiều người đã nghĩ rằng Dell sẽ không triển khai phương pháp này, vì máy tính không phải là loại sản phẩm có truyền thống bán hàng theo kiểu đó. Michael Dell đúng là người không bị truyền thống ràng buộc, ông có tầm nhìn và cách thức tư duy sáng tạo.

Tuy nhiên, không dễ dàng để làm cho hệ thống này chạy trơn tru ngay lập tức. Những lợi thế chi phí rất lớn, khi không qua trung gian Dell tận dụng được nhiều chi phí vận hành, và khoản tiết kiệm này được chuyển sang khách hàng mà không gây ảnh hưởng gì đến lợi nhuận của công ty.

Kênh bán hàng trực tiếp giúp Dell có lợi thế chi phí mang tính cấu trúc, đây là điểu mà đối thủ cạnh tranh của họ đã không thể - và hiện nay vẫn chưa thể - theo kịp. Điều này đã làm Dell lột xác: từ một nhà kho của công nghệ máy tính trở thành người dẫn đầu. Dell đã là thương hiệu số 1 với doanh số bán đạt mức cao nhất trong nhiều năm.

Hiện nay thì vị trí này được HP (Hewlett Packard) chiếm giữ, nhưng không có nghĩa là mô hình của Dell đã lỗi thời. Thương hiệu này vẫn còn nguyên sức mạnh to lớn của mình với lợi thế chi phí mang tính cấu trúc khổng lồ.

Theo chúng tôi thì một nguyên nhân giúp HP đoạt được ngôi vị số 1 của Dell là do sự phát triển bùng nổ của sản phẩm laptop. Dell xây dựng thương hiệu với máy tính để bàn, nhưng ngày nay sản phẩm laptop đã vượt trội hơn so về doanh số bán và sẽ tiếp tục bỏ xa máy tính để bàn; vì giới doanh nghiệp đã ưa chuộng công nghệ không dây và các văn phòng cũng lưu động nhiều hơn.

Ví dụ, phần nhiều của chính cuốn sách này được viết với laptop IBM Thinkpad T60 trong các quán cà phê, chứ không phải bằng máy tính để bàn tại các văn phòng.

Chúng tôi đoán rằng thương hiệu HP được nhận biết tốt hơn Dell trong các sản phẩm laptop. Đây không phải là lý do duy nhất khiến Dell bị rơi xuống vị trí số 2, chắc chắn còn nhiều lý do khác nữa. Nhưng bất kể ở vị trí nào đi chăng nữa thì Dell vẫn là một thương hiệu mạnh được xây dựng thành công từ công thức giá rẻ.

Trích "Chiến lược khác biệt hóa để phát triển thương hiệu" /Nhà Xuất Bản Trẻ

Tạo dựng một thương hiệu mạnh với giá rẻ - Phần 1

Nhiều chuyên gia thương hiệu sẽ khuyên bạn rằng: bạn cần có thương hiệu mạnh và do đó bạn không cần phải cạnh tranh bằng giá cả. Chúng tôi cũng không phản đối chuyện này. Tuy nhiên, chúng tôi không nói với bạn rằng bạn không thể xây dựng một thương hiệu mạnh khi bạn cạnh tranh bằng giá cả.

Amazon.com

Giá rẻ của amazon.com cũng được hình thành từ các lợi thế chi phí mang tính cấu trúc. Để tạo dựng nên một cửa hàng sách, người ta cần phải đầu tư vốn lớn và còn các chi phí cố định đáng kể khác. Sách là sản phẩm cần có số lượng lớn, cần được trưng bày đẹp và không gian lưu trữ. Chính tài năng của Jeff Bezos đã đem cả hiệu sách lên mạng.

Trên thế giới ảo này, người ta có thể trưng bày hàng triệu đầu sách mà không hề phát sinh một loại chi phí cố định nào có thể gây cản trở việc kinh doanh. Và amazon.com cũng ký kết hợp đồng để có thể cung cấp dịch vụ gửi sản phẩm trực tiếp từ nhà xuất bản đến khách hàng, việc này giúp họ tiết kiệm thêm các chi phí tồn kho. Lợi thế chi phí mang tính cấu trúc của amazon.com đã giúp họ vượt lên vị trí đầu tiên trong các cửa hàng bán lẻ sách online, đồng thời cũng là hiệu sách lớn nhất thế giới.

Nếu như chiến lược của Dell là loại bỏ điểm trung gian thì chiến lược của amazon.com lại là tự đưa mình trở thành một hiệu sách ảo và đứng chen vào giữa nhà xuất bản và khách hàng mua sách. Nhưng cả hai thương hiệu này đều đã loại ra những bộ phận cấu thành chi phí trong mô hình kinh doanh của họ, đối với amazon.com thì đó là các cửa hàng sách và kho chứa sách.

Tuy nhiên, cũng như Dell, amazon.com hiện đang sử dụng kênh phân phối rất hiệu quả của chính mình để bán các sản phẩm khác như CD, DVD, VCD … Chúng tôi cho rằng họ vẫn cần tập trung vào sách, bởi vì khi mở rộng dòng sản phẩm kinh doanh thì họ rất chúng tôi sẽ thiếu đi sự tập trung cần thiết và điều này là bất lợi trong dài hạn. Nhưng đó là câu chuyện khác và chúng tôi sẽ kể vào dịp khác.

Southwest Airlines

Ngày nay, hàng không giá rẻ xuất hiện nhiều. Air Asia, Tiger Airways, JetStar Asia và nhiều hãng khác đã tràn ngập thị trường. Nhưng ít người biết rằng tất cả các hãng này đều được hình thành theo mô hình của “ông tổ” Southwest Airlines.

Southwest Airlines do Herb Kellerher sáng lập, đã là một hãng làm ăn có lời trong những năm độc lập. Công ty này được sáp nhập vào năm 1967 và chuyến bay đầu tiên được thực hiện năm 1971. Đây cũng là một thương hiệu mạnh được thiết lập trên nền tảng là giá rẻ, chúng ta cần hiểu rằng nhờ hạ tầng cơ sở tuyệt vời của hãng này mà họ đã có một lợi thế chi phí “bất khả xâm phạm” đối với các hãng hàng không khác của Hoa Kỳ.

Từ lúc ban đầu, Southwest Airlines chỉ có một loại máy bay là Boeing 737, và do đó các chuyên gia của họ rất thuận lợi khi chỉ việc bảo trì một loại máy bay duy nhất. Ngày nay, Southwest Airlines khai thác hơn 500 máy bay Boeing 737 tại 63 thành phố, và việc huấn luyện cho các nhân sự mới cũng dễ dàng hơn: cả người huấn luyện lẫn người được huấn luyện đều chỉ cần tập trung sao cho thành thạo một loại máy bay.

Điều này giúp họ giảm chi phí. Southwest Airlines cũng phục vụ hành khách theo kiểu: đến trước - phục vụ trước, không có việc chỉ định chỗ ngồi trên máy bay. Vậy là cũng không cần có những hệ thống tốn kém cho việc bán vé. Hầu hết các chuyến bay của họ đều không quá 2 giờ đồng hồ nên cũng không cần phục vụ bữa ăn cho hành khách. Máy bay của hãng hạ cánh ở các sân bay nhỏ, chỉ hoạt động tại 30 trong tổng số 50 tiểu bang của nước Mỹ.

Hơn nữa Southwest Airlines bay trực tiếp đến điểm đến mà không đáp xuống các trung tâm (hub) gây tốn kém. Tất cả tạo nên sự tiết kiệm chi phí và đóng góp vào lợi thế chi phí mang tính cấu trúc của hãng. Chính lợi thế này đã đưa Southwest Airlines lên vị trí số 1 thế giới trong lĩnh vực hàng không giá rẻ.

Southwest Airlines cạnh tranh hiệu quả so với nhiều hãng hàng không giá rẻ khác, nhưng khi so sánh với các hãng khác có lịch trình bay và dịch vụ đầy đủ thì sao nhỉ? Trong năm 2006, Southwest Airlines đạt doanh thu 9.1 tỷ US$ và 449 triệu US$ lợi nhuận (5.5%).

Trong khi đó, từ 2004 đến 2006, Continental Airlines có tổng doanh thu là 34.2 tỷ US$ và báo cáo lỗ 134 triệu US$ . Mặc dù hãng này đã nỗ lực tăng lợi nhuận lên 343 triệu US$ với doanh thu 13.1 tỷ US$ trong năm 2006 thì tỷ suất lợi nhuận biên của họ cũng chỉ là 2.6%, tức chưa bằng một nửa của Southwest Airlines.

Còn United Airlines có tổng doanh thu (từ vận hành) là 53.1 tỷ US$ và lỗ (trong vận hành) là 626 triệu US$ trong giai đoạn 2004 – 2006.

Tình trạng của Delta Airlines còn đáng sợ hơn: họ đã tính toán rằng mức lỗ lũy tiến trong giai đoạn này là 15.2 tỷ US$!

Nếu xem xét tình trạng của các hãng hàng không Hoa Kỳ khác thì chúng ta đều có thể nhận định rằng Southwest Airlines đã hoạt động rất tốt, nhờ những lợi thế chi phí mang tính cấu trúc này.

Toyota

Toyota là một trong những công ty xe hơi thành công nhất trên toàn thế giới. Họ đã qua mặt Genral Motors để trở thành thương hiệu đứng đầu khi xét về số lượng sản phẩm được bán ra. Nhưng ngay cả trong quá khứ, khi Toyota chỉ xếp thứ 3 sau General Motors và Ford thì họ cũng đã có lợi nhuận hấp dẫn hơn cả tổng lợi nhuận của hai hãng xe Hoa Kỳ này cộng lại.

Trong báo cáo cuối năm tài chính ngày 31-3-2007, Toyota có doanh thu 202.9 tỷ US$ và lợi nhuận ròng là 13.9 tỷ, đạt tỷ suất 6.9% . General Motors lại báo cáo năm tài chính này (31-12-2006) với doanh thu 207.3 tỷ US$ - cao hơn Toyota - nhưng công ty này chịu lỗ 2 tỷ US$ . Còn Ford trong báo cáo cuối tháng 12-2006 cho thấy doanh thu 160.1 tỷ US$ và chịu lỗ 12.6 tỷ .

Hãy nhìn nhận vấn đề theo một hướng khác. Tính đến thời điểm 4 giờ chiều (theo giờ miền Đông Hoa Kỳ) ngày 14-12-2007 giá cổ phiếu của General Motors là 26.52US$, và tổng giá trị cổ phiếu của họ là 15 tỷ US$. Cùng thời điểm này thì giá cổ phiếu của Ford là 6.90US$ và tổng giá trị cổ phiếu là 12.9 tỷ, còn giá của cổ phiếu Toyota là 106.3US$ với tổng giá trị cổ phiếu đạt 383.7 tỷ US$. Ngay cả thương hiệu lừng danh Google (tổng giá trị cổ phiếu đạt 215.9 tỷ US$) cũng không thể so sánh được với Toyota! Điều này có nghĩa là giá trị của Toyota gấp gần 18 lần so với General Motors và Ford cộng lại.

Thành công của Toyota là nhờ vào sản phẩm xe hơi phổ thông nhưng có chất lượng cao, giá rẻ, xuất phát từ lợi thế chi phí mang tính cấu trúc của họ. Có thể tin rằng bạn đã nghe nói đến dây chuyền sản xuất Kanban nổi tiếng với JIT (just-in-time) của Toyota. Rất nhiều công ty trên toàn thế giới, cả những công ty không hoạt động trong lĩnh vực xe hơi, đã học hỏi mô hình này của Toyota.

Hệ thống này được thiết kế nhằm đảm bảo chỉ đem các bộ phận đến dây chuyền lắp ráp khi có nhu cầu đúng, giúp Toyota giảm thiếu chi phí tồn kho và thời gian lắp ráp cho mỗi sản phẩm, từ đó giúp tiết kiệm tổng chi phí.

Với lợi thế chi phí mang tính cấu trúc này, Toyota có thể sản xuất xe hơi ngay tại những địa bàn đắt đỏ nhất như Nhật Bản mà vẫn bán được sản phẩm với giá rất cạnh tranh.

Trích "Chiến lược khác biệt hóa để phát triển thương hiệu" /Nhà Xuất Bản Trẻ

# Xây dựng thương hiệu thông qua dịch vụ khách hàng #

Khi nhắc đến xây dựng thương hiệu, dịch vụ khách hàng thường là yếu tố cuối cùng và hay bị bỏ qua nhất. Đây là một sai lầm lớn – và một cơ hội lớn bị bỏ lỡ. Dùng dịch vụ khách hàng để củng cố thương hiệu của bạn là một cách thức cần thiết nhưng lại chưa được tận dụng để thu hút và duy trì khách hàng, làm cho doanh nghiệp trở nên khác biệt, và tăng cường sự trung thành với thương hiệu.


Chất lượng dịch vụ là yếu tố nền tảng để xây dựng thương hiệu mạnh

Nếu được thực hiện đúng cách, nó sẽ tạo ra một lợi thế cạnh tranh bền vững thực sự. Dưới đây là 6 cách để sử dụng dịch vụ khách hàng nhằm tăng cường nhận diện thương hiệu. Những phương pháp này có thể được sử dụng để củng cố các thương hiệu đã được thiết lập hoặc để xây dựng một thương hiệu thông qua dịch vụ khách hàng.

1. Thiết lập và thực hiện một mục đích dịch vụ khách hàng - phù hợp thương hiệu

Các công ty thành công công thức hóa một mục tiêu chiến lược (strategic intent) và thực hiện theo công thức đó để có được thành công thị trường; các tổ chức có hiểu biết bản đồ hóa mục tiêu chiến lược đó thành mục tiêu thương hiệu.

Trong khi các doanh nghiệp thường nắm bắt mục đích thương hiệu bằng hoạt động quảng cáo, họ lại bỏ qua điều đó khi đưa ra các dịch vụ khách hàng, dù là thông qua trang web, trung tâm tư vấn khách hàng, các cửa hàng, hay các chi nhánh. Điều này có thể kết thúc bằng sự phá hủy thương hiệu.

Do đó việc tung ra dịch vụ khách hàng - phù hợp thương hiệu là điều rất quan trọng mà các nhà điều hành cấp độ C phải làm để đảm bảo sự thực hiện thông suốt cả những hoạt động trực tiếp với khách hàng và những hoạt động hỗ trợ sản xuất.

Dùng dịch vụ khách hàng để củng cố thương hiệu đúng cách nó sẽ tạo ra một lợi thế cạnh tranh bền vững thực sự

2. Thiết kế các quy trình phù hợp với thương hiệu

Các quy trình dịch vụ khách hàng thường liên quan đến nhiều khâu, nhiều nhiệm vụ, nguồn nhân lực, và các tổ chức khác nhau. Ví dụ, dịch vụ trung tâm tư vấn khách hàng bao gồm đường dây cuộc gọi, các tương tác, các giải pháp, sự hài lòng, và cũng có thể bao gồm các giao tiếp với nước ngoài, dựa trên những nguyên tắc kinh doanh đã được xác định trước.

Các thương hiệu cao cấp nên thiết kế các quy trình tập trung vào dịch vụ khách hàng hỗ trợ trực tiếp bằng con người hơn là các dịch vụ tổng đài cố định, dù nó theo không gian trụ sở (brick-and-motar) hay một chế độ tư vấn khách hàng (ví dụ như nói chuyện qua điện thoại hoặc qua web).

Việc đảm bảo rằng các cấp độ dịch vụ đã cam kết phải đạt được thông qua các công cụ quản lý quy trình dịch vụ khách hàng mạnh là điều cũng rất quan trọng. Các thương hiệu không bị xâm phạm cần hạn chế dịch vụ khách hàng nói chuyện phiếm hoặc những cuộc nói chuyện cá nhân hung hăng.

3. Cung cấp dịch vụ phù hợp thương hiệu có sự hỗ trợ của con người

Dịch vụ hỗ trợ sử dụng con người có nghĩa là các yêu cầu dịch vụ khách hàng phức tạp và các giao dịch cụ thể đòi hỏi phải có sự tham gia của con người. Hơn nữa, một vài phân khúc khách hàng thích được tiếp cận với con người.

Do đó, việc công ty thuê và duy trì đội ngũ nhân sự phù hợp cho dịch vụ khách hàng là quan trọng. Các tổ chức nguồn nhân lực có thể làm cho đặc tính của thương hiệu tương thích với đặc tính mong muốn của đội ngũ đại diện tuyến đầu để đảm bào việc tuyển dụng và duy trì nhân viên tư vấn phù hợp với thương hiệu.

Phong cách giao tiếp và kiến thức của các đại lý trung tâm tư vấn khách hàng theo kiểu “mô hình vai trò” (tức là, phù hợp với thương hiệu nhất) có thể được đưa vào các hệ thống quản lý dịch vụ khách hàng theo dạng nội dung thông tin và hướng dẫn tương tác đối với các nhân viên tư vấn tại các điểm tương tác với khách hàng, và thậm chí cả trong các hệ thống tổng đài cố định.

Các công ty dịch vụ tài chính và bán lẻ đi trước thời đại đang mở rộng những hệ thống như vậy thành những cửa hàng và các chi nhánh có không gian trụ sở để nâng cao tính hiệu quả và tính đồng bộ.

4. Cung cấp những tổng đài cố định phù hợp với thương hiệu

Tổng đài cố định đem đến một cơ hội lớn để xây dựng hình ảnh của thương hiệu. Ví dụ, các hệ thống thông tin trợ giúp hướng dẫn tinh vi và các chatbot trực tuyến được thiết lập theo sau những phát ngôn viên quảng cáo đa truyền thông của công ty có thể kết hợp thỏa đáng giữa tương tác tổng đài cố định phù hợp thương hiệu với khách hàng.

Một ví dụ giả thuyết có thể là chatbot được thiếp lập theo sau con tắc kè hoặc “người cổ” đối với GEICO và William Shatner đối với priceline.com. Trên thực tế, một công ty dịch vụ tài chính hàng đầu ở Nhật Bản đã sử dụng một chatbot thiết lập theo sau một diễn viên nổi tiếng trên thương mại truyền hình.

5. Sử dụng thước đo phù hợp thương hiệu

Một sai lầm nghiêm trọng trong quản lý dịch vụ khách hàng là sự không đồng bộ giữa chiến lược thương hiệu với các thước đo dịch vụ. Ví dụ, thước đo Wal-Mart force-fitting đối với một mục tiêu thương hiệu Nordstrom là một chiến lược không tốt. Các thương hiệu cao cấp không nên nhấn mạnh vào các thước đo số lượng như là số lần xử lý cuộc gọi trung bình.

6. Phù hợp hóa với thương hiệu tất cả các điểm tiếp xúc

Hầu hết các doanh nghiệp vẫn có sự tương tác, dữ liệu, và kho kiến thức ở các trung tâm tư vấn cuộc gọi, các trung tâm dịch vụ trực tuyến, và các hệ thống tổng đài cố định, nhưng những bộ phận này không biết các bộ phận khác đang hoạt động như thế nào.

Gần đây, rất nhiều các công ty đã bắt đầu liên kết các tương tác khách hàng với kiến thức vào một nền tảng chung như là bước đầu tiên để liên kết kinh nghiệm khách hàng qua các kênh khác nhau với các nhân viên tư vấn dịch vụ. Tuy nhiên, hầu hết các công ty vẫn chưa phù hợp hóa với thương hiệu các dịch vụ khách hàng qua các kênh giao tiếp.

Một nền tảng thống nhất tiếp cận tới dịch vụ khách hàng liên kênh và phù hợp thương hiệu có thể giúp họ đạt được hiệu quả nhanh hơn, và những khách hàng của họ sẽ không gặp phải khó khăn gì khi bị chuyển từ kênh giao tiếp này sang kênh giao tiếp khác, hoặc từ nhân viên tư vấn này sang đại lý khác.

Theo Saga

Xây dựng thương hiệu trên thế giới ảo

Ngày nay, truyền thông cổ điển không gây chú ý nhiều đối với giới trẻ và cả những người có tâm hồn trẻ trung. Hướng mới mở ra là vấn đề về các thành viên tham gia. Một khi tạo mối quan hệ tốt với những khán giả này thì cách quảng cáo qua video là rất hữu hiệu.


Đội bóng chày chuyên nghiệp, Coca Cola, Ngân hàng Well Forgo, khách sạn W, và Hiệp hội chống ung thư Mỹ có điểm gì chung? Họ tận dụng thế giới ảo để tiếp cận với khách hàng tiềm năng và tài trợ bằng những phương pháp mới lạ.

Chẳng hạn như công ty Massive, hiện thuộc Microsoft. Ban đầu Massive mang tên “Lost Boys” (dành cho lứa tuổi từ 18 đến 34) những người ít để ý đến phương tiện truyền thông.

Phân khúc thị trường dành cho quảng cáo chiếm khoảng 12 tỷ đô la trong truyền hình và 10 triệu đô la cho sản phẩm trò chơi video. Thách thức lớn của các nhà quảng cáo là việc giảm lượng khán giả xem truyền hình mà thay thế bằng các nhu cầu giải trí khác như (internet, nghe nhạc, gửi tin nhắn) hoặc đơn giản là bỏ qua các quảng cáo thông qua truyền hình hoặc các công cụ ghi âm khác. Một vấn đề muôn thưở của các nhà quảng cáo là không có khả năng đo lường trực tiếp kết quả hay lợi ích thu được từ nguồn đầu tư (ROI).

Nhận định giá trị của công ty Massive là cần “chèn” những quảng cáo vào các trò chơi video được chọn lọc trên internet, hiển thị trên màn hình trò chơi. Massive làm việc với các nhà sản xuất trò chơi video để tạo mã cho chương trình cho phép quảng cáo trong phạm vi trò chơi. Đồng thời, dữ liệu ấn tượng chạy ngược vào Massive trở thành khối dữ liệu cho các nhà quảng cáo. Các dữ liệu này cho phép các nhà quảng cáo điều chỉnh nội dung cơ bản đang diễn ra nhằm đạt hiệu quả cao hơn.

Thoạt đầu, các nhà quảng cáo có nguồn dữ liệu cho mục quảng cáo của họ mà mục tiêu của nó nhắm đến là tìm kiếm khán giả. Phần lớn các trò chơi trên internet đòi hỏi phải trả tiền và các thông tin cá nhân, các thành viên tăng lên thấy rõ.

Một lĩnh vực tiềm năng cho quảng cáo là những thế giới ảo. Ví dụ như Second life (cuộc sống khác) và Entropia Universe mang đến nhiều cơ hội cho người chơi liên lạc với nhau trong nhiều hình thức mà với các phương tiện truyền thông trước kia không làm được. Với cách cài đặt như thế, mỗi cá nhân có thể tạo một “hiện thân” 3 chiều (một con người với nhiều cá tính tuyệt vời) qua việc đi đứng, bay hoặc gọi điện, có thể thám hiểm vào các thế giới tưởng tượng.

Những không gian ảo này có vô số hình thù và giống các con đường của thành phố ở Amsterdam, lối đi bộ vào viện bảo tàng Louvre ở Paris hay đang đứng trên con tàu Titanic - đứng trong tư thế giống như Rose và Jack ! Đóng vai một người khác trong “Second life” bạn có thể kiếm được một mảnh đất, xây một ngôi nhà và một cửa hàng ngay ngoài sân, tiện cho việc mua sắm quần áo và các thứ cần dùng trong nhà. Trong thế giới này, bạn cũng có thể đổi đô la thật, ranh giới giữa thật và ảo trở nên lu mờ.

Thêm nữa, bạn có thể tạo mối quan hệ với hàng xóm, hoặc một nhóm nào đó cùng sở thích và hoàn cảnh để chia sẻ. Vài tổ chức sáng tạo đã tạo một nơi gặp gỡ như thế để thu hút giới trẻ và tạo thành làn sóng mang thương hiệu của họ vào các hoạt động hay môi trường .
Với các thành viên cảu Coca-Cola, phim trường của Coke là nơi mà giới trẻ tuổi mới lớn có thể kết hợp âm nhạc vào phòng quay ảo, giành điểm “decibel” bằng cách trình phong cách của họ với các thành viên khác.

Với số điểm có được, họ có thể mua các thứ như đồ đạc dùng trong nhà cho phòng ghi âm của mình. Điểm có được nhờ tham gia các trò chơi và các hoạt động khác. Cho dù đang đi trên đường hoặc đang trả lời cuộc thi vấn đáp thì vạch trắng và đỏ (logo của Coke) luôn hiện diện ở phía sau, trên giấy dán tường, khu vực xung quanh như người xây dựng thương hiệu năng động. Sự tiếp cận tế nhị này mang lại sự hiểu biết rộng hơn, cũng giống như các chương trình quảng cáo, cho phép mỗi người tương tác với thương hiệu.

Còn về thương hiệu mang tính giáo dục? Nếu bạn làm việc cho cơ quan tài chánh, bạn cũng sẽ thành công trong việc tạo sân chơi cho thế hệ mới nhằm tuyên truyền thương hiệu của bạn. Chẳng hạn như Fargo đã tạo hòn đảo Stagecoach Island trong Second life như một trò chơi tìm hiểu về tài chánh ảo trực tuyến thực sự đầu tiên.

Sự pha trộn của giải trí và học hỏi mang lại thành công hơn các phương tiện truyền thông cổ điển là điều hiển nhiên.

Các trò chơi miễn phí trên internet cho phép sinh viên tạo ra các nhân vật trong đảo Stagecoach và có thể giao lưu với các thành viên của đảo khác. Mặc dù các hoạt động này miễn phí như môn nhảy dù ra khỏi máy bay và các trò chơi khác yêu cầu phải trả tiền, nhưng cũng có thể kiếm tiền bằng cách tham gia vào mục “khu dành cho việc học hỏi ảo” (Virtual Learning Lounge) để trả lời các câu hỏi cơ bản về ngân hàng. Các chủ đề có liên quan đến ngân sách, tiết kiệm, sử dụng tiền từ chương trình Well’s Fargo được gọi là “thực hiện nghiệp vụ ngân hàng”. Bằng cách tạo một sự vui nhộn, Well’s Fargo dành cho giới trẻ cơ hội tận hưởng dịch vụ này (máy rút tiền Well’s Fargo ATM ) trong khi cộng tác với các dịch vụ ngân hàng.

Điều gì xảy ra nếu bạn mang thương hiệu mới mẻ vào thị trường cạnh tranh? Chính là trường hợp của Aloft (thương hiệu khách sạn AW) xảy ra năm 2006. Theo Alison Brod thuộc bộ phận giao tiếp của Aloft thì Aloft sẽ là thương hiệu khách sạn đầu tiên mở cửa hoạt động với sự chuẩn bị cài đặt ảo. Khách đến khách sạn có thể tham quan phòng ốc, phòng cho khách ngồi nghỉ, môi trường xung quanh rất tốt trước khi khách sạn khai trương vào năm 2008.

Thương hiệu Aloft được xem như “sự giải thoát” từ một quán ăn, cung cấp dịch vụ cao. Khách đến tham quan được cung cấp ý kiến phản hồi về sự thoải mái như phục vụ thức ăn hay trang trí. Mục đích phía sau sự phát triển trong lãnh vực này là hướng dẫn người tiêu dùng hiểu được thương hiệu bằng cách cho người tham quan thưởng thức phòng kiểu gác xếp và một môi trường phù hợp. Thực chất, Aloft đang xây dựng khách hàng tiềm năng dựa trên cơ sở tạo sự thân thuộc và sử dụng dịch vụ của họ.

Hãy tưởng tượng nếu bạn là một tổ chức phi lợi nhuận với nguồn lực giới hạn. Hội chống ung thư Mỹ gần đây tổ chức một cuộc “diễu hành” qua các con đường ảo nhằm kêu gọi ủng hộ, gây quỹ từ thiện. Trong bài báo gần đây trên trang web On Philanthropy.com, hội chống ung thư Mỹ kêu gọi ủng hộ được 38,000 đô la trong cuộc vận động mang tên “Relay for life”. Cuộc diễu hành này thu hút hàng ngàn người tham gia nhiệt tình. “Chúng tôi hồi hộp chờ đợi sự thành công của chương trình “Second life relay for life” của năm nay” ông Michael Mitchell, phó chủ tịch – giám đốc điều hành Trung tâm cải tiến và định hướng của ban phòng chống ung thư Mỹ phát biểu. “Hiện nay, hơn bất kỳ lúc nào, chúng tôi biết rằng đang có một cộng đồng ảo hoạt động tích cực, hiệu quả trong việc phòng chống ung thư”. Cái hay của việc sử dụng môi trường này là mở rộng phạm vi hoạt động, với chi phí thấp. Từ các hoạt động tồn tại trong thế giới ảo, chi phí tài trợ cho sự kiện hay chi phí phát sinh (như áo thun và phí vệ sinh) có thể kiểm soát được. Với ưu điểm trong thành công của Hiệp hội chống ung thư Mỹ, đây là môi trường thuận lợi cho các hoạt động từ thiện khác.

Còn về số phận của 500 tổ chức? Có kênh quảng cáo khác tồn tại trong thế giới ảo này không? Hãy xem xét các khả năng sau.

Công ty bạn sản xuất các thiết bị của điện thoại cầm tay mới ra đời hữu ích hơn cho người tiêu dùng so với các thiết bị hiện hành khác. Các phương tiện truyền thông cổ điển đạt mục tiêu trong thị trường nhỏ hơn khá chật hẹp và đa dạng hóa sản phẩm. Do bản chất kỹ thuật của việc ra mắt sản phẩm, bạn cần khách hàng có thời gian làm quen với các hoạt động vui nhộn này. Cuối cùng, bạn xây dựng được trung tâm kỹ thuật trong thế giới ảo để chứng minh tính năng của một trò chơi.

Ví dụ, để hướng dẫn người sử dụng về đặc điểm trong GPS, bạn phải tạo một khu rừng nhiệt đới Amazon, hướng dẫn họ đánh dấu đường đi tránh vùng đất lún và thú dữ. Khi hoàn tất trò chơi, họ sẽ “học” được cách sử dụng sản phẩm và khuyến khích người khác tham gia.

Vậy giá trị thật sự của quảng cáo trong thế giới ảo này là gi? Trước tiên, khách hàng có thể trải nghiệm nhiều điều không có trong thế giới hiện tại. Thách thức của sản phẩm trong sự cài đặt ảo này là mang lại một môi trường ít rủi ro mà người ta có thể thử trước và biết rõ về các quyền lợi kèm theo. Bạn có thể thuê một nhân vật làm nhà ngoại giao sản phẩm để trả lời các câu hỏi thông thường. Cũng giống như bạn đang chứng minh sản phẩm và dịch vụ 3 chiều của mình. Video giúp người sử dụng có thêm kinh nghiệm. Trong một số tình huống, kiếm sống bằng cách băng Đại dương cũng có thể thấy được qua vài cài đặt ảo

Vậy môi trường ảo có thể là cách quảng cáo hay một cộng đồng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng? Ngày nay các tổ chức giám sát các trang này để biết xem người ta nói gì là điều rất quan trong. Vậy thế giới ảo có phải là phương tiện tiếp theo dành cho quảng cáo?

Theo LantaBrand

Xây dựng thương hiệu: Giới hạn của sự cam kết

Bạn nghiên cứu hầu hết khách hàng để làm thương hiệu cho công ty bạn và để thích nghi với sự biến đổi môi trường kinh doanh. Nhưng giới hạn của cam kết thương hiệu là một trong những điểm cốt lõi.



Chỉ có 15% khách hàng của bạn có mức độ trung thành cao với thương hiệu và ước tính có thể tạo một nửa doanh số bán hàng. Sự thật khó khăn này là điều nằm trong đặc trưng của nhiều thương hiệu.

Bạn có thể đang nghĩ, điều này có thể là sự thực? Không, marketing về xây dựng cam kết để sáng tạo và sau đó là khóa lại giá trị cao cấp từ các khách hàng?

Sau đây là một vài chiến thuật thực sự về chuẩn mực của thương hiệu:

- Một nửa trong số khách hàng trung thành của bạn trong năm nay sẽ không trung thành trong năm tới.

- 20% khách hàng, ước tính 80% doanh thu bao gồm những sản phẩm cao cấp có thể thậm chí thích nhiều thương hiệu hơn và mua nhiều thương hiệu khác nhau.

- Tính trung bình, 30% khách hàng trung thành không tỏ thái độ về thương hiệu của bạn cũng như sự hỗ trợ cho khách hàng và những nhược điểm của công ty bạn.

- Với hầu hết thương hiệu, chỉ một số lượng rất nhỏ khách hàng kết nối với công ty bạn qua truyền thông xã hội. Theo nghiên cứu hãng Coca-cola có 3,5 triệu fan hâm mộ nhưng con số người trên Facebook uống Coke chỉ có thể là 100 triệu USD doanh thu.

Do đó, cách bạn xây dựng một kế hoạch marketing để hỗ trợ những mặt khác trong bán hàng – một nửa đến từ những khách hàng, người không thực sự trung thành với thương hiệu của bạn như thế nào?

Với những khách hàng như vậy, đó không phải là thương hiệu không có ý nghĩa; nó chính là thương hiệu mang ý nghĩa và được tin tưởng. Khi một khách hàng quyết định điều gì để đỗ xe đi vào cửa hàng? bạn đang cạnh tranh với sản phẩm của những thương hiệu khác và điều đó có ý nghĩa với khách hàng. Với một vài điều trong thương hiệu của bạn, bạn có ưu thế hơn và một số đối thủ khác thì không.

Nhưng những cơ hội đặc biệt đó khách hàng có thực sự quan trọng? Khi một thương hiệu lớn mạnh, không tìm cách thay đổi mức khách hàng trung thành trở nên quan tâm tới thương hiệu – do đó doanh số từ việc duy trì khách hàng trung thành thấp có thực sự giảm sút?

Dựa trên cơ sở thống kê sự phân bổ những mô hình sử dụng để cấu trúc danh sách sản phẩm mua sắm thường xuyên về hàng hóa, cho thấy có sự chia sẻ 10% thị phần cho những thương hiệu phát triển cho tới 15% thị phần tăng trưởng sau đó.

Nếu bạn phân khúc danh sách khách hàng bằng mức độ trung thành 4 bậc, bạn sẽ thấy bạn phải tăng thị phần ở mỗi bậc khách hàng. Nhóm trung thành cao phải tăng ở hầu hết, nhưng thậm chí ở nhóm khách hàng trung thành thấp cũng cần phải tăng mua sắm của họ đối với sản phẩm của bạn từ 30% trở lên.

Xét theo khía cạnh khác, bạn phải tìm nhiều khách hàng hơn để xây dựng lòng trung thành nhưng bạn luôn phải tăng thị phần trong mua sắm cho những người mua sắm ít hơn.

Do đó, nếu xây dựng sự ràng buộc không như Holy Grail – Đức thánh linh thiêng, điều gì nói về giá trị thương hiệu của bạn thông qua quảng cáo? Có phải quảng cáo sẽ là vô nghĩa nếu bạn không xây dựng một sự cam kết với khách hàng? Thực sự, không có gì có thể đi xa hơn sự thật. Quảng cáo giúp thương hiệu của bạn truyền tải ý nghĩa tới khách hàng. Đôi khi điều này là yếu tố hàng đầu để cam kết với khách hàng, nhưng nó luôn dẫn đầu về thông tin thương hiệu để có thể làm biến đổi thái độ mua hàng của khách.

Thương hiệu có nghĩa là đưa cho mọi người một khả năng để đoán trước sản phẩm của bạn. Ví dụ, “một hoạt động kinh doanh từ thương hiệu này là để nói về một điều X về tôi”.

Thương hiệu truyền tải ý nghĩa giúp khách hàng có phương thức lựa chọn, do đó nó đi tới mục đích tạo ra khách hàng trung thành; nó luôn cần để tăng chia sẻ với khách chỉ bằng cơ hội đặc biệt. Nó luôn có thể đi đầu trong tạo ràng buộc với khách hàng. Ý nghĩa thương hiệu có thể và sẽ mở rộng đặc trưng thiết thực về sản phẩm của bạn.

Có nhiều cách hơn việc độc chỉ có quảng cáo để truyền tải ý nghĩa thương hiệu của bạn. Bạn có thể làm nó bởi việc truyền tải qua từ ngữ trên các mạng truyền thông xã hội, tạo một kinh nghiệm thương hiệu, đề nghị các nhà bán lẻ nơi truyền tải trở nên rành mạch hơn hoặc liên kết thương hiệu với các chủ sở hữu truyền thông hoặc những nhân vật danh tiếng.

Với nhiều khách hàng, thương hiệu của bạn sẽ mang ý nghĩa để loại trừ những thương hiệu khác. Trong một nghiên cứu tính hợp lý thương hiệu, bao gồm “chọn lọc thương hiệu” được phản ánh trong một phần của sự kiểm tra khách hàng về vị trí và xác lập một đặc tính quan trọng trong thương hiệu công ty bạn đối với nhận thức khách hàng. Tôi nghĩ về điều này như là việc sở hữu đặc trưng thương hiệu. Đặc trưng thương hiệu chính là điểm mạnh để thu hút sự trung thành của khách hàng và đây chính là điều bạn nên nghĩ đến đầu tiên khi bắt đầu xây dựng một sự cam kết thương hiệu thực sự.

(Theo Người Lãnh Đạo)