Pages

Hiển thị các bài đăng có nhãn quang cao online. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quang cao online. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2011

Quảng cáo trực tuyến và bán hàng trực tuyến - hai nhân tố không thể tách rời

quangcaotructuyenvn - Nhờ vào các cửa hàng, các trang web giới thiệu sản phẩm, các hệ thống phân phối rộng rãi, các nhà sản xuất, kinh doanh mới có thể làm cho sản phẩm của mình tiếp cận được với khách hàng một cách nhanh chóng và thúc đẩy doanh thu.
Uncategorized - Mua hang qua mang o xu nguoi

Ngày nay có một hệ thống bán lẻ còn khá mới mẻ, nhưng hiện tại đang thể hiện rất tốt vai trò của mình trước các doanh nghiệp, đó là phân phối sản phẩm qua hệ thống bán lẻ trên mạng. Tuy nhiên có một điều khó khăn cho các doanh nghiệp là: họ phải làm như thế nào để tất cả các bên như hệ thống cửa hàng, các kênh bán lẻ và những kênh trung gian khác có thể kết hợp chặt chẽ với các đơn vị bán lẻ trên mạng để đạt được một kết quả khả quan?

Câu trả lời nằm ở hệ thống kinh doanh bán lẻ trên mạng, hệ thống này có thể quản lý các thành phần như: lượng hàng đã bán được, lượng hàng đang tồn kho, khối lượng đặt hàng, đồng thời có thể thiết lập một hệ thống cơ sở dữ liệu khách hàng. Hệ thống này không chỉ đơn thuần liên kết với kế hoạch tiếp thị của doanh nghiệp mà còn có mối quan hệ chặt chẽ đến định hướng hoạt động của doanh nghiệp.

Các thông số đo lường quảng cáo trực tuyến và bán hàng trực tuyến.

Người làm tiếp thị bán lẻ trên mạng luôn hiểu rằng sự phân loại hàng hoá, sử dụng kênh bán hàng nào và thể hiện gói hàng như thế nào là ba yếu tố kết hợp đem lại lợi nhuận cao nhất trong bài toán hoạch định bán lẻ.
Hiệu quả quảng cáo trên mạng thường được đo bởi chỉ số truy cập (click-through rate – CTR), chỉ số chuyển biến (CR), chi phí/đơn vị lợi nhuận đạt được (CPA) và lợi nhuận/đơn vị quảng cáo (ROAS):
  • CTR là phần trăm số người truy cập vào trang web.
  • CPA là chi phí để có được một giao dịch hoặc một khách hàng thông qua kênh tiếp thị.
  • ROAS thể hiện lợi nhuận bán hàng trên từng dollar chi phí cho kênh tiếp thị trực tuyến hoặc cho một quảng cáo trên kênh đó.
  • CR là phần trăm số người truy cập trở thành khách hàng
Đáng buồn thay, các tiêu chuẩn đo lường hiệu quả quảng cáo thường không thể đem vào để đánh giá các hoạt động bán hàng trực tuyến. Các nhà bán lẻ có những tiêu chí hoặc các thông số để đánh giá hệ thống bán hàng trực tuyến của mình.

Đối với họ, các thông số này gồm: giá trị đơn hàng trung bình (AOV), lợi nhuận ròng (GP), lợi nhuận biên (GPM), lợi nhuận biên/chi phí đầu tư (GPROI), lợi nhuận biên/tồn kho đầu tư (GMROII) và giá trị chu kỳ sống (LTV):
  • AOV ($) = Doanh thu / Số lượng đơn hàng
  • GP ($) = Doanh thu – Chi phí hàng bán
  • GPM (%) = (Doanh thu – Chi phí hàng bán) / Doanh thu
  • GPROI (%) = (Doanh thu – Chi phí hàng bán) / Chi phí hàng bán
  • GMROII ($) = Lợi nhuận ròng ($) / Chi phí Tồn kho trung bình
  • LTV ($) = Giá trị lợi nhuận ròng kỳ vọng sinh ra từ một khách hàng trong tương lai
Rất nhiều nhân tố trở nên quen thuộc, có tính duy trì và lặp lại, nhưng cơ bản thì người bán lẻ phải khoanh vùng và theo dõi khách mua hàng qua mạng để nắm được giá trị của LTV trên từng đồng bỏ ra để tiếp thị trực tuyến.

GMROII (đọc là “gym-roy”) là thước đo hiệu quả bán hàng vì sự liên kết của nó với 3 yếu tố: lợi nhuận, tồn kho và lợi nhuận ròng. Mục tiêu của họ là cực đại doanh thu và lợi nhuận biên, trong khi phải giảm thiểu từng đồng bỏ ra cho tồn kho. GMROII càng tăng bao nhiêu thì lợi nhuận trên từng SKU dành cho nhà bán lẻ càng nhiều hơn bấy nhiêu.

Kết hợp đo lường bán lẻ và quảng cáo trực tuyến

Để có thể kết hợp 2 hệ thống đo lường vào với nhau, nhà kinh doanh phải có khả năng gắn kết doanh thu, sự chuyển đổi và thông tin quảng cáo được lấy từ các kênh tiếp thị trực tuyến, với dữ liệu hoạch định bán lẻ, chi phí cho từng sản phẩm bán ra (COGS) và giá trị tồn kho trung bình.
Sự kết hợp giữa các đo lường quảng cáo trực tuyến với các đo lường hoạch định bán lẻ sẽ tạo ra các tiêu chuẩn đánh giá hợp lý hơn về các hoạt động bán hàng sau khi các hoạt động bán hàng đã được sự hỗ trợ truyền thông từ các hoạt động quảng cáo, ví dụ như lợi nhuận ròng/chi phí quảng cáo (GPROAS), lợi nhuận ròng/ đơn hàng (GPO), lợi nhuận ròng/khách hàng (GPA)
  • GPROAS (%) = Lợi nhuận ròng ($) / chi phí quảng
  • GPO = Lợi nhuận ròng ($) / Số lượng đơn hàng
  • GPA = Lợi nhuận ròng ($) / Số lượng khách hàng mới

Biết cách giành được khách hàng

Việc chọn những kênh quảng cáo cho hệ thống bán lẻ thường được thực hiện dễ dàng vì nhà quảng cáo biết được khách hàng bán lẻ của mình thường có hành vi như thế nào. Chi phí tìm khách hàng thông qua các kênh này thường thấp nhất, nhưng vẫn tồn tại một câu hỏi: Bạn có chắc là mình đã giành được khách hàng đó không? Nếu câu trả lời là có thì khách hàng đó sẵn sàng chi ra bao nhiêu và vị khách đó liệu có đem lại nhiều lợi nhuận?

Lòng trung thành, khả năng giữ khách hàng của sản phẩm và giá trị thời gian sống của sản phẩm là những yếu tố chính đo lường khách hàng. Khi bạn đã có khả năng phân khúc khách hàng và theo dõi được hành vi của khách hàng thì bạn sẽ đo lường được chi phí tiếp thị trực tuyến cho từng khách hàng, bạn sẽ biết được bạn đã giữ chân được một khách hàng có giá trị hay chưa (hay một người khách tiềm năng trong tương lai có thể đem lại nhiều lợi nhuận cho bạn).

Kiểm soát Chi phí Quảng cáo Trực tuyến và Đo lường Việc Bán lẻ hiệu quả

Nắm rõ các khoản chi tiêu trong ngân sách quảng cáo trực tuyến để đề ra những chiến lược phù hợp trong phát triển hệ thống bán lẻ là cách cơ bản nhất để tối ưu các hoạt động quảng cáo trực tuyến, và đây cũng là cách mà các công cụ quản lý tiếp thị trực tuyến hoặc quản lý giá cả đã sử dụng để theo dõi và xử lý các thông tin bán lẻ nhằm tối ưu hoá các khoản chi quảng cáo để hỗ trợ cho các kênh này.

Trên từng kênh trực tuyến, tốt nhất bạn nên phân khúc và nhận diện những cách giành được khách hàng. Bước đầu tiên để thu thập những dữ liệu này dĩ nhiên là phải ghi nhận địa chỉ URL của khách hàng và mã hoá vào từng khách hàng với nguồn chú thích tìm được khách hàng như thế nào và chi phí tìm được khách hàng này là bao nhiêu…

Nếu đã phát triển được hệ thống theo dõi và báo cáo tiếp thị trực tuyến, bạn hãy bắt tay vào việc thêm các thông tin như: chi phí sản phẩm, chi phí tồn kho để tính toán lợi nhuận đầu tư. Nếu bạn có tư vấn quảng cáo hay sử dụng phần mềm của đơn vị tư vấn, hãy cố gắng giữ cho hệ thống phục vụ hậu cần cho việc bán lẻ luôn được cập nhật những giải pháp quảng cáo trực tuyến đã được sử dụng.

Khả năng báo cáo việc đo lường bán lẻ phải được thực hiện thuần thục, phải thường xuyên được thực hiện và được thực hiện theo trục thời gian. Khả năng này kết hợp với sự đánh giá thông tin khách hàng sẽ giúp bạn thực hiện cải thiện lợi tức cao nhất trên từng cú click, làm giảm chi phí tồn kho và sinh ra nhiều lợi nhuận.
Nguồn gomm.com.vn

Thứ Hai, 24 tháng 5, 2010

Ngày càng nhiều doanh nghiệp sử dụng quảng cáo trực tuyến

Đây là lần đầu tiên số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng các giải pháp quảng cáo trực tuyến vượt được các dịch vụ quảng cáo truyền thống. Thống kê của Kelsey Group đã cho thấy sự thay đổi đáng kể và chiều hướng đi lên tích cực của các phương tiện truyền thông trực tuyến.


Trong 1 năm từ tháng 8/2008 tới tháng 8/2009, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMB) sử dụng các dịch vụ truyền thông, quảng cáo trực tuyến đã tăng từ 73% lên 77%, trong khi đó các giải pháp quảng cáo truyền thống giảm từ 74% xuống còn 69%. Đây là con số về số lượng doanh nghiệp sử dụng dịch vụ, không xét tới yếu tố ngân sách quảng cáo của họ.

Đứng trên khía cạnh ngân sách, năm suy thoái kinh tế 2008-2009 làm sụt giảm 23% ngân sách quảng cáo của SMB, nhưng riêng tỷ lệ của mảng trực tuyến lại tăng tới 37% nếu so với cùng kỳ tháng 8/2008 là 22% tổng ngân sách. Và nếu tính trung bình thì ngân sách chi cho quảng cáo trực tuyến vẫn ở mức tăng trưởng mạnh, 27% từ 608$ (2008) lên 769$ (2009).

Việc sử dụng các công cụ thống kê và đánh giá hiệu quả quảng cáo, ROI cũng cho thấy những tín hiệu đáng mừng đối với lĩnh vực trực tuyến khi 30% doanh nghiệp quan tâm tới các công cụ này. Cần lưu ý rằng các công cụ thống kê và đo lường hiệu quả quảng cáo chính là một trong những thế mạnh lớn nhất mà quảng cáo trực tuyến mang lại cho khách hàng. Việc tương tác, mua sắm, thói quen... của người sử dụng sẽ giúp cho doanh nghiệp rất nhiều trong việc định hướng chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp.

"Sự phát triển nhanh chóng của quảng cáo số so với các giải pháp truyền thống trong doanh nghiệp vừa và nhỏ đã cho thấy xu hướng chuyển từ offline sang online ngày càng mạnh mẽ", Steve Marshal, giám đốc nghiên cứu của Kelsey Group nhận định. Đây là những cơ hội lớn cho các công ty quảng cáo trực tuyến có cơ hội phát triển và mở rộng hơn nữa thị phần đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Kelsey Group là hãng tư vấn, khảo sát, cung cấp thông tin về quản trị, thị trường và các nguồn dữ liệu phù hợp giúp cho khách hàng có những thông tin quan trọng để mở rộng cơ hội kinh doanh và thúc đẩy phát triển thị trường.
Kelsey Group có trụ sở tại Princeton, New York, USA

Theo MarketingProfs

Quảng cáo Google Adwords vs SEO: Giải pháp nào cho ngân sách quảng cáo?

Khi nói tới marketing trực tuyến thì phương án quảng cáo trên Google là một trong những phương án đầu tiên các doanh nghiệp nghĩ tới nhằm hướng đúng các đối tượng khách hàng.

Chọn một trong hai phương án: Google Adwords hay SEO đã khiến không ít marketer băn khoăn về tính hiệu quả và ngân sách dành cho chương trình. Không phải công ty nào cũng có thể thực hiện đồng thời cả hai chiến lược, nhưng nếu buộc phải chọn một thì sẽ bạn sẽ tập trung vào phương án nào?


TỐI ƯU HÓA WEBSITE (SEO): NHỮNG ƯU ĐIỂM "TỰ NHIÊN"

Càng "tự nhiên" càng thu hút nhiều click

Google Adwords dù sao cũng là quảng cáo, trong khi đó kết quả tự nhiên là những kết quả không phải quảng cáo. Do vậy không có gì ngạc nhiên khi tỷ lệ khách hàng lựa chọn những kết quả "tự nhiên" cao hơn rất nhiều lần so với chọn Quảng cáo Google Adwords. Dưới đây là một số thống kê giúp bạn có thể định hình vai trò của SEO:

  • 86% người tìm kiếm chọn các kết quả tự nhiên hơn là kết quả quảng cáo.
  • 70% đối tượng tìm kiếm ngay lập tức nhìn vào kết quả tự nhiên (nghiên cứu về hoạt động của mắt khi tìm kiếm).
  • Theo một khảo sát khác: có 78% người được hỏi thấy thông tin từ quảng cáo Adwords hữu ích chỉ chiếm 40%.

Mức độ tin tưởng

Kết quả tự nhiên luôn mang lại sự tin tưởng cao hơn quảng cáo, đây là yếu tố vô cùng quan trọng khi các nhà quảng cáo muốn hướng tới đối tượng khách hàng và tính hiệu quả. Cụ thể qua các thông tin khảo sát có khoảng 14% khách hàng tin tưởng vào Quảng cáo Adwords, nhưng có tới 29% cảm thấy khó chịu với hình thức quảng cáo tài trợ này. Đây là những con số buộc các nhà quảng cáo phải nghĩ tới các phương án đưa ra các thông điệp quảng cáo hấp dẫn hơn tới khách hàng.

Giá trị của khách hàng

10 kết quả đầu tiên của Google đem lại cho bạn khách hàng mà bạn không phải trả phí cho mỗi lần họ ghé thăm website bạn. Bên cạnh đó, các khách hàng này "có giá trị" hơn so với những khách hàng đến từ Pay per click, cụ thể có khoảng 17% khách hàng thao tác nhiều hơn (chuyển trang, đọc bài...) so với quảng cáo tài trợ và tỷ lệ Conversion từ SEO thường ở mức cao hơn so với Adwords.

Khách hàng dễ dàng phân biệt đâu là quảng cáo

Quảng cáo và không quảng cáo tạo những ấn tượng khác nhau cho người dùng trước khi click vào đường link dẫn tới website. Không khó để có thể phân biệt được quảng cáo Google Adwords và có tới 54% người sử dụng dễ dàng nhận biết yếu tố này. Đây cũng là thông số rất quan trọng giúp các nhà hoạch định quảng cáo có phương án tối ưu trong việc chiếm các vị trí quảng cáo và sáng tạo thông điệp cho riêng mình.

Giá click sẽ bị đẩy lên cao

Với chính sách đấu giá từ khóa của Google Adwords, một từ khóa hot sẽ nhanh chóng bị đẩy lên một mức giá cao hơn khả năng của khách hàng và nếu muốn duy trì khả năng tiếp cận khách hàng thì không có cách nào khác là phải tăng giá. Ngược lại, SEO là mức phí duy trì hợp lý và ít biến đổi, đây là yếu tố quan trọng giúp khả năng quản lý ngân sách của Marketer được dễ dàng hơn.

Kết quả bền vững

SEO đó là tối ưu hóa website, không chỉ là nội dung, cấu trúc, kỹ thuật liên kết mà còn cả việc thu hút truy cập. Một khi bạn đã đạt thành công ở một thứ hạng cao, khả năng thay đổi thứ hạng đó sẽ chậm hơn nhiều so với tốc độ biến mất của Adwords. Đó chính là cơ sở đầu tư lâu dài nếu thật sự SEO mang lại những nguồn lợi to lớn đối với từ khóa bạn đã chọn.

Yếu tố phù hợp

72,3% người dùng Google đánh giá cao kết quả tìm kiếm tự nhiên so với 27,3% chọn Quảng cáo Adwords, với Yahoo tỷ lệ này là 60,8% - 39,2% cũng đủ cho thấy vai trò quan trọng của SEO tác động như thế nào.


QUẢNG CÁO GOOGLE ADWORDS: QUẢNG CÁO THẬT LINH HOẠT VÀ ĐƠN GIẢN

Không có phương thức nào có thể đưa thông điệp quảng cáo tiếp cận khách hàng nhanh bằng Adwords và cũng khó tìm ra được những mô hình quản trị nào đơn giản và hiệu quả đến vậy. Quảng cáo Google Adwords có những ưu điểm to lớn mà không một phương án marketing nào khác có thể đem tới hiệu quả nhanh và cụ thể như nó.

Kết quả tìm kiếm

Nếu một chiến dịch SEO bắt đầu được đầu tư cho đến khi bạn thu được kết quả thì khoảng thời gian 3-5 tháng không hề ngắn. "Thời gian là vàng" và nếu thực hiện chiến lược SEO bạn phải chấp nhận hi sinh thời gian của bạn. Ngược lại, Adwords nhanh chóng đưa quảng cáo hiển thị chỉ sau 10 phút lên chương trình. Nếu một chiến dịch khuyến mãi chỉ thực hiện trong vòng 1 tuần hoặc 1 tháng thì Adwords luôn là sự lựa chọn tuyệt vời nhất.

Ngân sách

Ngân sách nhỏ nhưng vẫn có hiệu quả, đó là ưu điểm không thể chối cãi của Adwords. Với 100 USD để thực hiện 1 chiến dịch SEO tổng thể là điều không thể nhưng ngược lại với Adwords, đó là con số đủ để thực hiện 1 chiến dịch quảng cáo Adwords với một vài từ khóa quan trọng. Tối ưu hóa từ khóa, tập trung vào các cụm từ có liên quan trực tiếp tới nhu cầu của khách hàng là cơ sở để bảo đảm từng đồng đôla đặt cược vào Adwords mang lại hiệu quả tối đa. Awords có thể tiêu tốn của doanh nghiệp hàng nghìn đôla, nhưng nó cũng không từ chối mức phí 100 USD hàng tháng mà bạn trả vào tài khoản.

Dễ dàng kiểm soát

Adwords với phương thức quản lý linh hoạt và đơn giản, dễ dàng giúp khách hàng có thể kiểm soát quy trình và chiến dịch quảng cáo hơn so với SEO. Một chiến dịch SEO đòi hỏi cần nhiều kỹ thuật và phương án tổ chức, xây dựng nội dung website trong khi đó quảng cáo Google Adwords không quan tâm tới yếu tố này. Những nguyên lý của quảng cáo tài trợ cũng khá đơn giản trên khía cạnh bạn chấp nhận trả một mức giá hợp lý cho quảng cáo của bạn.

Hợp đồng không quá phức tạp

Nếu những ràng buộc về mặt hợp đồng với đối tác SEO gồm cả những điều khoản bảo mật thông tin và nguy cơ penalty thì Adwords không quá nặng nề về khoản này. Chỉ cần bạn nạp tiền vào tài khoản là quảng cáo của bạn nhanh chóng xuất hiện, ngược lại nếu không có tiền để chạy quảng cáo, bạn sẽ nhanh chóng biến mất cho đến khi tiếp tục có ngân sách quảng cáo.

Có thể tối ưu quảng cáo Google Adwords để giảm chi phí

Không chỉ có SEO mới là tối ưu hóa website mà khi tham gia Google Adwords bạn hoàn toàn có thể tự tối ưu quảng cáo, nâng cao tham số chất lượng (Quality Score). Vậy nếu bạn có khả năng, hãy kết hợp nhuần nhuyễn kiến thức SEO và quảng cáo Adwords, bạn hoàn toàn có thể làm chủ các chiến dịch quảng cáo của mình.

KẾT LUẬN

Với những yếu tố đã so sánh, khó có thể nói rằng phương thức SEO hay Adwords tốt hơn. Với mỗi chiến lược đầu tư Marketing, doanh nghiệp sẽ có phương án phù hợp nhất hoặc thông qua những chuyên gia tư vấn quảng cáo tìm kiếm để tối ưu hóa chi phí. Vấn đề quan trọng và cốt lõi nhất của mỗi chiến dịch chính là hiệu quả kinh doanh của bạn, vậy hãy cùng phân tích kỹ lưỡng ưu nhược điểm, ngân sách và năng lực của mình để lựa chọn phương thức phù hợp nhất.

ADMA Yearbook: Quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam có tiềm năng phát triển

Asia Digital Marketing Association đã đưa ra bản nghiên cứu, đánh giá về tiềm năng phát triển của Internet và dự báo về các mô hình marketing số tại các quốc gia Châu Á Thái Bình Dương, trong đó đáng chú ý là những nhận định lạc quan về tiềm năng phát triển của quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam.


Tổng quan

Việt Nam là quốc gia có dân số trẻ với tốc độ phát triển Internet đáng kinh ngạc kể từ khi bắt đầu có Internet năm 1997. Hiện tại có khoảng 20,8 triệu người sử dụng Internet, tốc độ tăng trưởng khoảng 30% mỗi năm và có thể lên tới 47 triệu người vào năm 2013. Tỷ lệ người tham gia các mạng xã hội lên tới 16,12 triệu tức là 77,5% tổng số người dùng Internet.

Tin tức, báo mạng chiếm vị trí rất quan trọng trong đời sống trực tuyến khi có tới 89% lượng truy cập rơi vào các trang báo điện tử, 82% sử dụng các công cụ tìm kiếm, 73% chat và dịch vụ email được khai thác ở mức 58%...

Game trực tuyến cũng là điểm hấp dẫn do đặc điểm dân số trẻ. Có tới 57% thanh thiếu niên tại các thành phố thường xuyên tham gia các trang game online.

Tốc độ phát triển về băng thông Internet cũng giúp cho các hình thức giải trí như nghe nhạc (67%), xem video trực tuyến (43%), download/upload ảnh (30%), webcam (21%).. phát triển mạnh. Các trang thông tin dành cho lứa tuổi teen đạt tới hàng triệu pageviews mỗi tháng càng khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của lứa tuổi này tới sự phát triển của Internet Việt Nam.

Blog cũng có sức hấp dẫn rất lớn đối với giới trẻ khi có khoảng 55% thanh niên trong lứa tuổi 15 đến 25 sở hữu blog cho riêng mình.

Quảng cáo trực tuyến với tương lai tốt đẹp?

So với quảng cáo truyền hình và các phương thức quảng cáo truyền thống khác, quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam vẫn ở một con số khiêm tốn với 10 triệu USD năm 2007. Dự đoán của ADMA cho biết, doanh thu từ các dịch vụ và quảng cáo trực tuyến trong năm 2010 sẽ tăng lên khoảng 31 triệu USD và đạt khoảng 75 triệu vào năm 2014, chiếm 9% tổng chi phí marketing, quảng cáo, dịch vụ mạng.

Quảng cáo tìm kiếm (phổ biến nhất là quảng cáo Google Adwords) sẽ tiếp tục tăng mạnh và chiếm 45% chi phí quảng cáo trực tuyến. Trong khi đó quảng cáo banner sẽ tiếp tục tăng trưởng 50% so với năm 2009, tiếp tục là hình thức được ưa chuộng nhất hiện nay.

Không khó có thể nhận thấy tương lai tươi đẹp của các phương thức marketing trên mạng xã hội khi "dân số" các mạng lớn như Facebook, Zing Me, Tamtay... liên tục tăng trưởng. Các phương án quảng cáo trên các mạng xã hội này chắc chắn sẽ góp phần tăng trưởng đáng kể mảng quảng cáo trực tuyến, cùng với đó là các dịch vụ gia tăng đi kèm cũng tạo nên nguồn doanh thu hấp dẫn: Game, Music, Video...

Thương mại điện tử và những dấu lặng

Các thống kê về thương mại điện tử và thanh toán trực tuyến tại Việt Nam cho thấy E-commerce và E-Banking chưa thực sự đạt được phát triển như mong đợi. Trong khi có hàng nghìn website kinh doanh, mua bán, đấu giá, thương mại trực tuyến nhưng tỷ lệ mua bán online chỉ có 4% trong khi đó tỷ lệ sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến chỉ đạt ở mức 3%.

Việt Nam chưa thực sự bắt nhịp với thương mại điện tử, đó có lẽ là kết luận hợp lý nhất vào thời điểm này cho dù các mô hình B2B, B2C hay C2C không thiếu. Có lẽ rào cản thanh toán và bảo mật đã khiến tỷ lệ sử dụng thương mại điện tử còn ở mức thấp, các website chỉ mang tính chất giới thiệu sản phẩm nhiều hơn là kinh doanh online.

Một khảo sát nhỏ với khoảng 1600 doanh nghiệp Việt Nam đã đưa ra một số liệu khả quan: khoảng 75% trong số này cho biết thương mại điện tử mang lại hơn 5% doanh thu cho doanh nghiệp (Nguồn: Bộ Công Thương). Đây có thể là những thông tin giúp cho lĩnh vực đầy tiềm năng này có cơ hội phát triển hơn nữa.

Nguồn: Asia Digital Marketing Association Yearbook 2009

Sử dụng hiệu quả các mạng xã hội mà không “làm phiền” người sử dụng

Việc phải thường xuyên nhận hàng tá thư mời đăng ký thành viên của một mạng xã hội hay tải một chương trình ứng dụng nào đó đã trở nên nhàm chán đối với những người sử dụng mạng xã hội.

Điều này gây không ít thách thức cho những marketer đang tìm kiếm cách thức sử dụng những mạng này để khuấy động fan hâm mộ hay khai thác mối quan hệ với khách hàng.

Theo khảo sát của Cục quảng cáo trực tuyến Anh Quốc, gần 1/3 những người tham gia mạng xã hội cho biết họ đã quá nhàm chán với những lời yêu cầu tham gia mạng xã hội hay thử những chương trình ứng dụng mới. Điều này có nghĩa là những marketer cần phải liên tục đổi mới nếu họ muốn tận dụng sức mạnh của mạng xã hội và khuyến khích người sử dụng tham gia vào những trang web do họ tài trợ.

Khi được hỏi “Điều gì bạn không thích ở một mạng xã hội?”, có 31% người trả lời là họ nhân quá nhiều thư đề nghị sử dụng những ứng dụng mới. 16% cho rằng xuất hiện những quảng cáo không phù hợp với họ. Khoảng hơn 5% than phiến về những thông điệp từ các nhãn hiệu và 5% khác lại ca thán về sự lạm dụng của các mạng xã hội. 12% không có phàn nàn và 7% đã đăng ký đề tìm hiểu thêm về nhãn hiệu.

“Xét theo quan điểm của marketer, mạng xã hội rất tuyệt vời về lý thuyết”, theo Alistair Beattie, Giám đốc bộ phận kế hoạch chiến lược của AKQA, Luân Đôn. “Đó là một nhóm người có nhiều thời gian và luôn thích tìm hiểu về các nhãn hiệu. Cái khó là họ xem đây là không gian riêng để tiêu khiển và luôn “kháng cự” với những gì được cho là quảng cáo trong không gian riêng của mình.

Hạn chế spam

Amy Kean, giám đốc marketing cao cấp của IAB cho biết: “Mặc dù mạng xã hội đã trở nên quen thuộc, nhưng cuộc nghiên cứu trên đã chỉ ra tầm quan trọng của việc tôn trọng người sử dụng. Họ sẽ không phản hồi những thư rác và quảng cáo không liên quan. Do đó việc quản lý những thông tin quảng cáo này sẽ là ưu tiên hàng đầu của các mạng xã hội".

AKQA đã thành công với Marmite* trên Facebook. Thông điệp quảng cáo của nhà sản xuất bánh mì này là “Yêu nó hay ghét nó” (Love it or hate it), thông điệp này tạo ra các chủ đề bàn tán trên các mạng xã hội. Các fan đã post các công thức, thảo luận các cách thức chế biến kì lạ để thưởng thức loại đặc sản này. Họ còn kể những truyền thuyết về món ăn này và chia sẽ sự khó chịu khi không thể mua loại bánh mì này ngoài nước Anh.

Theo Beattie quảng cáo trên các mạng xã hội “vẫn theo phương pháp tiếp cận gián đoạn truyền thống theo kiểu tích góp những thông điệp mà người sử dụng yêu thích”.

Khảo sát của IAB đã chỉ ra rằng: Những nội dung chuyên biệt sẽ thu hút 28% người sử dụng và những thông điệp mạng lại những lợi ích thiết thực sẽ thu hút 37%. Đây là chìa khóa cho những phản hồi tích cực từ phía người tiêu dùng trên mạng xã hội. Trong đó chỉ có 5% cho là họ không thích các thông điệp mà nhãn hiệu truyền tải.

Điều này cho thấy những cơ hội lớn dành cho marketer nếu họ biết đánh đúng vào nhu cầu của người dùng. “Để trở nên thân thuộc, các nhãn hiệu cần có tính cách và ai đó có thể kết bạn”, Beattie cho biết “nguyên tắc chính là đưa ra những lợi ích mà không có ở đâu khác hay những lợi ích mang tính cộng đồng. Những nhãn hiệu cũng là một phần trong cuộc sống của mỗi người và họ đều cảm thấy vui vẻ khi được xem như là bạn của một nhãn hiệu nào đó.”

Khảo sát của IAB trên 2,000 người sử dụng internet cũng chỉ ra rằng mạng xã hội đang ngày trở nên thân thuộc hơn trong môi kinh doanh hiện tại. 41% cho rằng họ ngày càng tin tưởng và đánh giá cao những ý kiến và nhận xét của bạn bè và người thân trên mạng xã hội.

*Marmite: tên một loại bánh mì, được sử dụng ở Vương quốc Anh.

Theo Saga.

Các doanh nghiệp “tự lăng xê” trên Facebook

Với sự phát triển cực nhanh của mạng xã hội ảo Facebook, giới doanh nghiệp trên thế giới, trong đó không loại trừ Việt Nam đang tích cực khai thác khả năng quảng cáo miễn phí trên mạng xã hội này.

Theo thống kê, 83/100 công ty chi nhiều quảng cáo nhất nước Mỹ đối với Facebook đều có chung một quan điểm đó là “không thể bỏ qua”. Những đại biểu lớn nhất như Johnson&Johnson, Nike hay hãng truyển thông khổng lồ AT&T hiện cũng đang đẩy mạnh PR cho thương hiệu của mình trên Facebook. Chỉ tính riêng tại Mỹ, năm 2005 doanh thu quảng cáo trên Internet là 12.5 tỷ USD, năm 2006 tăng 34% đạt con số 16,8 tỷ.

Một điều đáng ngạc nhiên đó là trong khi các doanh nghiệp đổ xô việc tận dụng khả năng khai thác thương mại điện tử trên Facebook, thì chính Facebook lại không hề quảng bá đình đám cho mình trên các trang khác. Nói một cách chính xác hơn, họ quá nổi tiếng và báo chí, các trang cá nhân sẽ phải tự nhắc đến họ.



Coca-Cola trên Facebook

Theo đánh giá của các nhà phân tích, vấn đề không phải do Facebook có quảng cáo cho sức mạnh của mình về thương mại điện tử hay không mà lại chính ở người sử dụng. Ở đây là các doanh nghiệp, tự tìm thấy khả năng của Facebook để triển khai. Đây là một trong những xu thế mới của các doanh nghiệp muốn lấn sân sang thị trường thương mại điện tử để quảng bá cho thương hiệu.

Ngoài ra, cũng có thể thấy các doanh nghiệp còn nhận thấy một lợi thế khác ngoài vấn đề tài chính đó là lợi thế Facebook đang là mạng xã hội lớn nhất thế giới với hơn con số thành viên lên đến hơn 250 triệu thành viên, cùng với số lượng truy cập lên đến 340 triệu lượt mỗi tháng đã đưa Facebook trở thành một đối thủ nặng kí so với ngay cả Google hay Yahoo.

Chính từ số lượng thành viên lớn như vậy, các doanh nghiệp đã nhận thấy rằng nếu quảng cáo trên mạng xã hội này sẽ có số lượng bạn (khách hàng tiềm năng) ghé thăm rất lớn thay vì những chiến lược PR khác tốn kém hơn rất nhiều và hơn cả thông qua hình thức này các doanh nghiệp sẽ nhận thấy những nhu cầu của khách hàng dễ dàng hơn.

Thực tế, trên thế giới có không ít tập đoàn lớn đã tận dụng triệt để Facebook để quảng bá thương hiệu của mình, trong đó nổi tiếng hơn cả như thương hiệu Cà phê Starbuck, Coca Cola…Còn ở Việt Nam, hiện nay cũng đã có rất nhiều doanh nghiệp "để mắt" đến cách thức quảng cáo thương hiệu này. Tuy nhiên, dường như các doanh nghiệp vẫn còn e dè và quảng cáo ở dạng thử nghiệm trong thời gian ngắn.



Hãng caphe Starbuck đã có một trang quảng cáo trên Facebook

Có thể lấy ví dụ như 2 doanh nghiệp du lịch ở hữu tàu Orient và Indochina ở Hạ Long. Với đối tượng khách nước ngoài là chủ yếu, hai doanh nghiệp này liên tục thay nhau xuất hiện trên Facebook với những hình thức khuyến mãi hấp dẫn. Trong khi đó các trang thông tin của Việt Nam cũng không bỏ qua cơ hội quảng bá mình. Anh Lâm Tấn Phong, admin của Tinnhanhblog.com cho biết: "Tôi đã thử quảng cáo vài ngày trên đây và thấy hiệu quả thật sự. Chỉ với 6USD, lượng truy cập tăng lên thấy rõ". Anh Phong cũng khẳng định, cách thức thanh toán của Facebook là khá đơn giản. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam vẫn chưa quen cách thanh toán trực tuyến nên vẫn còn gặp 1 số trở ngại.

Thứ Sáu, 21 tháng 5, 2010

Quảng cáo trên Facebook phát triển mạnh mẽ

Hơn 80% các công ty quảng cáo lớn tại Mỹ sử dụng Facebook để tự quảng bá thương hiệu trong khi các doanh nghiệp cũng bắt đầu coi mạng xã hội này như một môi trường thuận lợi để thực hiện các chiến dịch mở rộng thị trường.


Với 340 triệu lượt người sử dụng mỗi tháng, Facebook đã trở thành một công cụ marketing không thể bỏ qua đối với 83 trong số 100 công ty chi nhiều tiền quảng cáo nhất tại Mỹ. Khảo sát mới đây của tổ chức nghiên cứu AdAge cho thấy ngay cả những tên tuổi lớn như Johnson&Johnson, Nike hay AT&T cũng đang phải "cậy nhờ" mạng xã hội này để phát triển thương hiệu.

Phương thức tạo quảng cáo trên Facebook cũng khá đơn giản, có thể nhắm được vào đối tượng, ngành nghề, lứa tuổi, sở thích... để hướng tới đúng đối tượng khách hàng tiềm năng của các công ty. Hình thức trả tiền "theo hiệu quả" Pay per Click hoặc CPM cũng giúp cho quảng cáo trên Facebook thực sự được ưa chuộng đúng với xu thế quảng cáo trên thế giới.

"Mọi khách hàng đều muốn nói về Facebook" - Ed Montes, giám đốc Havas Digital, công ty chuyên thực hiện quảng cáo cho Sears, Expedia hay Air France nhận xét. - "Tôi chưa từng thấy sức hút nào mạnh mẽ đến thế kể từ sau sự ra đời của Google."

Khác với nhiều website khác, sự màu mè là điều được hạn chế tối đa khi quảng cáo trên Facebook. Các banner xuất hiện khiêm tốn hơn, hài hòa hơn với màu sắc và thiết kế trang web. Những thông điệp quảng cáo đơn giản tương tự Google Adwords cũng giúp cho Facebook tạo hiệu quả tốt đối với cộng đồng.

Ngoài cách quảng cáo bằng banner, Facebook còn cho phép khách hàng tạo trang cá nhân (Fan Page) trên mạng xã hội của mình. Người sử dụng sẽ được liên kết và thường xuyên cập nhật thông tin về hãng nếu họ trở thành "người hâm mộ" (Fan) của các trang này. Với cách làm đó, Starbucks đã thu hút được 3,7 triệu fan trong khi con số của Coca-Cola là 3,5 triệu. Fan Page cũng có thể được nhúng lên các trang web, blogs... để thu hút lượng thành viên vốn quen truy cập website của các công ty.

"Facebook đang cố gắng tạo ra một môi trường, nơi mà nhà sản xuất và khách hàng của họ có thể liên kết với nhau theo một cách đầy sáng tạo" - Ed Montes nhận xét. MySpace từng đi tiên phong trong việc đưa quảng cáo vào các mạng xã hội nhưng hoạt động này chỉ thực sự phát triển cùng sự ra đời của Facebook.

Facebook không tính phí cho các banner, ứng dụng quảng cáo cũng như chưa có kế hoạch kiểm soát sự phát triển thương mại điện tử trên trang web của mình. Tuy nhiên, hình thức đơn giản và sự dễ dàng cho người sử dụng trong việc đăng tải một mẩu quảng cáo trên mạng xã hội này đang đặt ra câu hỏi lớn đối với việc xác định danh tính và bản quyền.

Các tổ chức buôn bán hàng giả, hàng nhái hoàn toàn có khả năng lợi dụng những quảng cáo này để lôi kéo khách hàng trong khi nhà sản xuất không hề biết tới. Facebook chưa phải môi trường thực sự thuận lợi để tiếp cận đối tượng khách hàng doanh nghiệp khi không hỗ trợ quảng cáo khổ lớn nhằm phục vụ các chiến dịch marketing.

Theo Vnexpress

Đôi nét về Facebook



Facebook ra đời tháng 2 năm 2004, được sáng lập bởi Mark Zuckerberg, một sinh viên của đại học Havard danh tiếng. Ban đầu, Facebook là mạng xã hội được sử dụng trong trường Havard, nhưng nó đã phát triển nhanh chóng trở thành mạng lưới kết nối hơn 30 trường đại học khác nhau, giúp cho các sinh viên chia sẻ thông tin, kết bạn với các sinh viên khác.Thành công ngoài sức tưởng tượng của Facebook đã khiến Zuckerberg quyết định thành lập công ty, kêu gọi đầu tư và mở rộng mạng lưới phát triển khắp các trường trên nước Mỹ cũng như toàn cầu.
Mùa thu năm 2007, Facebook vượt ngưỡng 50 triệu thành viên, trong đó mỗi tuần họ lại tiếp đón thêm 1 triệu thành viên mới.Đến giữa năm 2009, lượng thành viên của Facebook đã vượt ngưỡng 300 triệu người và trở thành mạng xã hội lớn nhất thế giới. Facebook không chỉ duy trì vị thế độc tôn tại Mỹ mà hàng triệu trăm người trên khắp thế giới cũng đam mê chia sẻ trên mạng xã hội này.Giá trị của Facebook hiện nay khoảng 15 tỷ đôla, được sự đầu tư của hàng chục tổ chức tài chính, quỹ, công ty công nghệ, kể cả Microsoft.

Trụ sở chính: Palo Alto, California, United States.

Quảng cáo sụt giảm, quảng cáo online tăng trưởng

Do tác động của khủng hoảng kinh tế, thị trường quảng cáo thế giới đã sụt giảm 9,9% trong năm nay, giảm mạnh so với dự báo.


Quảng cáo online là điểm sáng duy nhất của thị trường quảng cáo

Nhưng thị trường này sẽ hồi phục yếu ớt trong năm tới và sẽ vững mạnh trong năm 2011, theo dự báo của công ty ZenithOptimedia thuộc tập đoàn truyền thông Publicis, công bố hôm qua 19-10.

Hồi tháng Bảy tập đoàn truyền thông Publicis đã dự báo thị trường quảng cáo sẽ giảm 8,5% trong năm nay. Việc điều chỉnh dự báo này “chủ yếu là do các kết quả tồi tệ trong sáu tháng đầu năm. Thực tế, chúng tôi tin rằng, thị trường quảng cáo sáu tháng cuối năm sẽ ít khó khăn hơn sáu tháng đầu, và kỳ vọng thị trường này sẽ chạm đáy vào cuối năm 2009”, theo giải thích của ZenithOptimedia.

Vị trí đặt quảng cáo ZenithOptimedia dự báo năm 2010 thị trường quảng cáo sẽ có sự hồi phục nhẹ, tăng khoảng 0,5%, ít hơn mức dự báo 1,6% đưa ra hồi tháng Bảy. Tuy vậy sự tăng trưởng của thị trường có sự chênh lệch rõ rệt ở các khu vực của thế giới: thị trường các nước phát triển bao gồm Bắc Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản sẽ tiếp tục sụt giảm 2,9%, trong khi thị trường các nước đang phát triển sẽ tăng 7,8% trong năm 2010.

Sang năm 2011, thị trường quảng cáo toàn cầu sẽ tăng mạnh, ở mức 4,3%; nhưng các nước phát triển chỉ tăng khoảng 1,5%, rất thấp so với mức tăng 9,8% ở các nền kinh tế đang phát triển.

Internet là phương tiện truyền thông duy nhất tăng trưởng mạnh về doanh thu quảng cáo trong năm 2009: quảng cáo online sẽ tăng khoảng 9,2%, giảm nhẹ so với mức dự báo 10,1% đưa ra hồi tháng Bảy. Ngược lại, doanh thu quảng cáo trên nhật báo và tạp chí sẽ giảm xuống, lần lượt là 17 và 20% trong năm nay.

“Chúng tôi dự báo vào năm 2011, doanh thu quảng cáo của báo in sẽ giảm 25% so với đỉnh điểm năm 2007; còn quảng cáo trên tạp chí sẽ giảm 28%”, báo cáo của ZenithOptimedia cho biết. Còn quảng cáo trên truyền hình, điện ảnh và các áp phích sẽ phục hồi trong năm 2010, quảng cáo trên đài phát thanh chỉ phục hồi sau năm 2011.

(Theo AFP)

Doanh thu quảng cáo trực tuyến xuống thấp kỷ lục

Các nhà tiếp thị trực tuyến nói rằng chi tiêu sẽ sụt giảm trong nửa cuối năm 2009, tuy nhiên mức giảm được dự báo có thể sẽ chậm lại

Theo như báo cáo mới đây được công bố bởi cơ quan theo dõi thị trường eMarketer thì thị trường quảng cáo trực tuyến đang ở mức đáy thấp nhất trong vài năm trở lại đây.

Công ty nghiên cứu đã hợp nhất các bản báo cáo chi tiêu từ nhiều nguồn khác nhau để đưa ra dự báo riêng của nó dành cho mảng thị trường quảng cáo số, và dự đoán rằng mức chi tiêu có thể sẽ tiếp tục giảm trong nửa cuối năm 2009 nhưng tỉ lệ giảm này có thể sẽ chậm lại.


eMarketer căn cứ vào đánh giá đó chủ yếu dựa trên những con số thống kê đưộc về chi tiêu quảng cáo trực tuyến mới được công bố đầu tuần này bởi Cục quảng cáo tương tác Interactive Advertising Bureau và công ty kiểm tóan PricewaterhouseCooper và đã tìm ra rằng tổng doanh thu đã giảm khoảng trung bình 5.3% qua các năm còn 10.9 tỷ đô la Mỹ.

Tuy nhiên, việc thị trường quảng cáo phải đối mặt với nhiều thông tin ảm đạm mà vẫn chỉ giảm có 1% trong suốt sáu tháng đầu năm đã thực sự giấy lên những lạc quan bước đầu cho những tháng cuối năm. Thực sự thì chính eMarketer cũng gọi sự suy giảm nhẹ đó là một điều đáng ngạc nhiên.

Vì thế trong bản báo cáo nhà phân tích David Hallerman có viết rằng trong khi những dự báo ước lượng ban đầu chỉ ra chi tiêu quảng cáo số sẽ tiếp tục sụt giảm nhưng tỉ lệ giảm đó được nhiều người mong là sẽ thấp hơn mức giảm 5.3% trong sáu tháng đầu năm.

Hallerman cũng dự đoán rằng các hệ thống quảng cáo trực tuyến- ngành mà nhiều người vẫn cho rằng sẽ chịu nhiều ảnh hưởng khi nền kinh tế suy thoái, sẽ tiếp tục phát triển mạnh trong những tháng cuối năm, đặc biệt là khi ngày càng có nhiều các khoản chi tiêu cho quảng cáo sẽ tập trung vào những chiến thuật thu hút sự hưởng ứng trực tiếp từ phía người xem.

Ông còn cho biết thêm “Đối với các nhà quảng cáo, các khoản chi phí tương đối thấp của các banner quảng cáo mua từ các hệ thống đã tiếp tục thu hút thêm nhiều khoản chi tiêu mới. Còn với các nhà xuất bản, sự cạnh tranh doanh thu quảng cáo mới chỉ bắt đầu tăng, khi ngày càng có nhiều trang cung cấp nội dung cũng như lượng độc giả ghé vào các trang trên không ngừng gia tăng.”

Theo vietnambranding.

Blog và hiệu ứng quảng cáo tại Nhật

Ngày nay, trước khi quyết định mua một món hàng, nhiều người thường tham khảo và gần như tin vào những đánh giá sản phẩm trên các trang blog hoặc diễn đàn. Vì thế, các công ty Nhật Bản nhận thấy blog chính là một phương tiện quảng cáo hiệu quả.


Hiệu quả bất ngờ

Gõ các từ “Shinkansen N700” (tên chiếc tàu cao tốc thế hệ mới nhất của Nhật Bản) vào một công cụ tìm kiếm bất kỳ trên Internet, kết quả cho ra hơn 20 hình ảnh và các bình luận như “tàu chạy rất êm”, “tốc độ nhanh chóng mặt”, “ghế ngồi thoải mái”.

Điều này cho thấy nhiều người quan tâm đến N700, nhưng không phải ngẫu nhiên! Đấy chính là kết quả của chiến dịch quảng cáo của công ty đường sắt Nhật Bản, nhắm vào cộng đồng blog.

Vào mùa hè năm nay, công ty đã mời vài chục blogger đi toa hạng nhất của chiếc N700, khởi hành từ Tokyo đến Osaka. Hầu hết các blogger đều rất thích thú và đáp lại “đặc ân” này bằng việc bàn luận về chiếc N700 trên các trang blog. Kết quả, số lượng khách đi chiếc N700 tăng 12%.

Nhận thấy vai trò của blog, công ty Nike Japan cũng khéo léo mở một trang blog mà sau này được nhiều người ưa chuộng cùng với trang web chính thức. Trong trang web này, Nike cho phép khách hàng tha hồ kể những chuyện hài hước khi mang giày NiKe và sử dụng dịch vụ hỗ trợ Nike+.

Kết quả ngoài mong đợi: hãng Nike sau đó đã mở rộng dòng sản phẩm giày thể thao từ hai lên thành 20 kiểu giày trong năm qua, do nhận được các phản hồi tốt của khách hàng về sản phẩm.

Ngày càng nhiều doanh nghiệp Nhật Bản sử dụng các blog để quảng cáo sản phẩm. Gần 15% các công ty đã mở các trang blog trên trang web của mình và con số này dự kiến có thể còn tăng hơn nữa.

Các công ty Nhật Bản khác, từ công ty sản xuất ô tô, các thiết bị công nghệ cao, phần mềm trò chơi đến các sản phẩm làm đẹp cũng đã bắt đầu nhắm đến các blogger. Họ hy vọng các blogger sẽ quảng cáo sản phẩm và tạo nên những đợt “xôn xao” trên mạng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn sử dụng các công cụ phần mềm phân tích các bài viết trên blog để tìm hiểu xu hướng và các sở thích khác nhau của khách hàng.

Tiếng nói của cộng đồng

Theo Công ty Internet Technorati (Mỹ), Nhật Bản đang trở thành một đất nước của blogger, với số lượng trang blog bằng tiếng Nhật chiếm 37% toàn bộ cộng đồng blog trên thế giới. May mắn cho các doanh nghiệp, các bài viết bằng tiếng Nhật trên blog có xu hướng giống như các trang nhật ký cá nhân hoặc các bài viết phê bình sản phẩm.

Theo Blog Watcher, gần nửa triệu bài viết trên blog đều bàn về các sản phẩm. Các blogger thường mô tả rất chi tiết và hào hứng về những gì họ đã ăn, đã mua, đọc và xem trên ti vi.

Các trang blog là “một biên giới phản hồi sản phẩm”, Ichiro Kiyota, giám đốc tiếp thị tại Six Apart – công ty đã giới thiệu phần mềm blog đến Nhật Bản, cho biết. Hiroshi Shigeta, phát ngôn viên của công ty đường sắt Nhật Bản khẳng định: “Các trang blog của những blogger này rất chính xác, rõ ràng và cực kỳ lý thú, thậm chí hơn cả trang web chính thức của chúng tôi”.

Theo một nghiên cứu gần đây của Nikkei Research, gần 40% những người đọc blog cho biết họ đã mua ít nhất một sản phẩm sau khi đọc các đánh giá về sản phẩm này trên một trang blog. Đấy chính là lý do Tetsuya Honda, một nhà tư vấn tiếp thị đang điều hành công ty BlueCurrent Japan, khẳng định: “Các trang web cá nhân là phương tiện truyền thông có sức mạnh to lớn vô cùng”.

Nhiều công ty vẫn còn khá thận trọng về việc “ve vãn” các blogger, vì lý do hết sức chính đáng: tiếng nói của cộng đồng blog có thể đem lại kết quả ngược với mong muốn. Năm ngoái, nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động hàng đầu Nhật Bản NTT DoCoMo buộc phải đóng cửa trang web xã hội của mình sau khi trả lời không kịp thời các ý kiến của khách hàng, dẫn đến những phàn nàn.

------------------------------------------------oOo------------------------------------------------

Gần 40% những người đọc blog cho biết họ đã mua ít nhất một sản phẩm sau khi đọc các đánh giá về sản phẩm này trên một trang blog.

Hãng xe hơi Nissan (Nhật Bản) chính là người đi đầu trong phong trào “mượn blog để quảng cáo”. Năm ngoái, Nissan mời khoảng 100 blogger có tiếng đến văn phòng của mình để giới thiệu chiếc xe Skyline.

Mấy ngày sau đó, khi gõ các từ khoá về sự kiện trên vào thanh công cụ tìm kiếm của Google, kết quả cho ra tới gần 14.000 trang web, có cả blog chính thức của công ty. Một blogger cũng đã post lên một file âm thanh “vroom!” cùng hình ảnh của chiếc Skyline. Blogger này viết: “Hãy để tôi cho bạn thấy nó ngầu như thế nào nhé. Tuyệt đẹp!”

Yahoo! và sai lầm trị giá 2,9 tỷ USD

hêm 1 dịch vụ nữa của gã khổng lồ trực tuyến Yahoo! sẽ phải đóng cửa.

Năm 1999, Yahoo! đã bỏ ra 2,9 tỷ USD để mua lại GeoCities. 10 năm sau, vào ngày 07/10/2009, gã khổng lồ trực tuyến đã phải ngậm ngùi gửi đi "thông báo cuối cùng" tới người dùng của GeoCities rằng dịch vụ này sẽ ngừng hoạt động vào ngày 26/10 tới.

Gần đây, Yahoo! đã khá nhiều lần "đóng cửa" hoặc bán đi các bộ phận của mình. Tất cả các động thái này là nhằm giảm bớt sự cồng kềnh của Yahoo! để hãng có thể tập trung hơn vào các sản phẩm chủ chốt gồm có: Homepage (trang web Yahoo!), Mail, Messenger, mọi thứ liên quan tới "di động", tìm kiếm và các sản phẩm liên quan tới thể thao, tin tức, tài chính và giải trí.


"Mục tiêu của Yahoo! là trở thành trung tâm trong cuộc sống online của mọi người, và những nỗ lực này là để thực hiện mục tiêu đó" - Tổng Giám đốc Yahoo!, bà Carol Bartz, phát biểu.

"Cái chết" của GeoCities đánh dấu sự kết thúc của 1 kỷ nguyên trên web. Dịch vụ cho phép người dùng tự tạo trang web cá nhân miễn phí này của Yahoo! chính là tiền thân của các công cụ hướng xã hội hay tự xuất bản mà rất nhiều người dùng web đang sử dụng hiện nay.

Theo 24h

Kế hoạch quảng cáo và truyền thông

Cuốn Guerilla Marketing Hanbook đã lấy ví dụ về thành công của Burger King trước đối thủ McDonald trong các chiến dịch marketing du kích như “Làm theo cách của bạn” và “Nướng, chứ không rán”.

Chiến dịch của BK được lặp đi lặp lại thường xuyên, thống nhất, tập trung, và được định vị rõ ràng. Sau đó, thay vì tập trung vào chiến dịch định vị thị trường và xây dựng thương hiệu dài hạn, BK lại chú trọng vào chiến dịch quảng cáo khuyến mại ngắn hạn. Nhưng sau những thành công ngắn ngủi, chiến dịch này của BK đã thất bại. Nó phá vỡ tính thống nhất vốn có trong các chiến dịch trước đây của công ty. BK đã phải trả giá cho sự thiếu kiên trì của mình, một sai lầm đi ngược lại các nguyên tắc của marketing du kích, đặc biệt khi dùng cho chiến dịch quảng cáo. Ví dụ này đã cho tất cả chúng ta một bài học quý báu về marketing du kích.

Khi đề cập đến quảng cáo, ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong suy nghĩ của nhiều người là tình trạng ngập lụt các thông tin quảng cáo mà hiện nay chúng ta đang phải đối mặt. Một số khác lại nghĩ đến những dãy dài các tấm biển quảng cáo dọc đường quốc lộ nối liền giữa các bang, những tạp chí đầy màu sắc nằm trên các sạp báo địa phương, v.v. Đây là những hình thức quảng cáo được số đông người làm marketing truyền thống sử dụng thường xuyên nhất.

Quảng cáo dưới tinh thần marketing du kích có thể có hoặc có thể không sử dụng hình thức này. Những người làm marketing du kích khi quảng cáo thường tập trung hơn vào thị trường mục tiêu, và ít hướng vào đám đông. Chính vì vậy, quảng cáo của họ thường mang tính cá nhân, đặc biệt và có thể mang lại nhiều đơn đặt hàng hơn.

Quảng cáo là là hình thức marketing hữu hình nhất. Trên “cây” marketing, quảng cáo được cho là nhánh khó nắm bắt ý nghĩa nhất, hấp dẫn nhất, và đắt giá nhất. Không may, nó cũng là một trong những nhánh nhỏ, dễ gây hiểu nhầm nhất. Nhưng suy cho cùng, quảng cáo vẫn chỉ là một trong nhiều vũ khí của marketing du kích mà thôi.

Truyền thông và quảng cáo có thể tạo dựng chỗ đứng cho doanh nghiệp, nhưng nếu không được lên kế hoạch phù hợp và thực hiện đúng, nó có thể ăn hết ngân sách marketing trong thời gian rất ngắn.

Mặc dù quảng cáo thực sự đóng vai trò trung tâm trong nhiều kế hoạch marketing du kích, nhưng chúng ta không nên sử dụng nó làm công cụ đe dọa. Quảng cáo có thể trở thành phương tiện marketing tốt nhất cho sản phẩm và dịch vụ hay không phụ thuộc nhiều vào thị trường và lĩnh vực kinh doanh của bạn. Quảng cáo được thiết kế tốt sẽ là quảng cáo hiệu quả. Song, thiết kế tốt không có nghĩa chỉ là quảng cáo phải có khẩu hiệu hay, có nhân vật nổi tiếng, hay thiết kế đồ họa và hình họa đặc biệt.

Trong cuốn Ogilvy on Advertising (Sách của Vintage), Divid Ogilvy phát biểu: “Với tôi, quảng cáo không phải là một hình thức giải trí hay một loại hình nghệ thuật, mà là một loại hình truyền thông. Khi thực hiện một quảng cáo, tôi không thích bạn nói với tôi rằng bạn thấy nó sáng tạo. Tôi muốn bạn thấy quảng cáo của tôi hay, và thú vị đến mức bạn sẽ mua sản phẩm”.

Hiện tượng này rất phổ biến. Có thể, bạn thấy một quảng cáo rất hay, nhưng bạn không thể nhớ cái gì được quảng cáo và ai quảng cáo. Bạn hãy thử xem ti vi vào một ngày bất kỳ, rồi xem quảng cáo đó được thiết kế để giải trí hay để thể hiện một mục tiêu quảng cáo rõ ràng.

Hình thức quảng cáo được các doanh nghiệp nhỏ sử dụng thường xuyên nhất là báo và tạp chí. Trước khi quảng cáo theo hình thức này, người làm marketing du kích cần phải hiểu đối tượng đọc ấn phẩm là ai, có bao nhiêu người đọc ấn phẩm và các dữ liệu nhân khẩu học khác.

Hãy chú ý rằng trong ngày hôm nay chúng ta sẽ không nói về các chương trình quảng cáo phải mất đến 1.9 triệu đô la để lên hình trong 30 giây của Super Bowl. Những người làm marketing du kích là người có thể biến những thương vụ đầu tư thấp thành những món hời lớn.

Quảng cáo theo kiểu du kích có một đặc điểm là nó dựa trên khách hàng thực và nhu cầu thực của họ, cũng như dựa trên sản phẩm và dịch vụ thực để đấu lại các đối thủ thực. Nó không cần đình đám và rùm beng, rồi để tiền rơi ra khỏi túi của doanh nghiệp.

Quảng cáo là một loại vũ khí mạnh, nhưng không phải là loại vũ khí duy nhất. Một người làm marketing du kích sẽ trữ trong kho rất nhiều loại vũ khí. Quảng cáo giúp những vũ khí khác tấn công hiệu quả hơn và ngược lại, quảng cáo sẽ mang lại hiệu quả và cảm giác tốt nhất khi được cân bằng với các hoạt động marketing khác.

Có một xu hướng được coi là “lành mạnh” trong quảng cáo theo kiểu du kích. Vào năm 1983, 70% ngân sách marketing của các đại lý bán lẻ được đầu tư vào quảng cáo. Mười năm sau đó, theo số liệu thống kê, mức đầu tư này giảm xuống còn 25%. Xu hướng đầu tư này vẫn tiếp tục duy trì cho đến hôm nay, đặc biệt là khi các công ty và tổ chức áp dụng chiến lược marketing du kích. Sự khác biệt này cũng xảy ra đối với những loại vũ khí marketing du kích khác.

Xu hướng này lành mạnh bởi vì đôi khi những người làm marketing đã chú trọng quá mức tới quảng cáo. Hầu hết các doanh nghiệp đều quảng cáo rất nhiều trong giai đoạn đầu. Nhưng những người làm marketing du kích lại tập trung quảng cáo ở giai đoạn cuối cùng. Bởi vì marketing là sự kết hợp của rất nhiều yếu tố (chúng ta sẽ nhắc đến điều này rất nhiều trong cuốn sách này), cho nên trước khi bắt đầu quảng cáo, bạn cần tập trung nguồn lực vào các yếu tố khác. Điều này đặc biệt đúng đối với một doanh nghiệp mới thành lập.

Những người làm marketing du kích sử dụng quảng cáo để xây dựng tư duy cho khách hàng. Nếu bạn biết chính xác mình muốn có được điều gì từ quảng cáo, phải hướng thông điệp của mình vào đâu, và thể hiện điều bạn muốn khách hàng biết như thế nào theo cách tiết kiệm nhất có thể, thì quảng cáo của bạn sẽ rất hiệu quả.

Các doanh nghiệp thường nhầm lẫn marketing với quảng cáo. Marketing không phải là quảng cáo. Nếu đến lúc này, bạn vẫn chưa thể phân biệt hai khái niệm này, bạn hãy đọc lại chương này.

Quảng cáo là một tập hợp những thông điệp rõ ràng, sáng tạo với một quỹ thời gian, năng lực, và sức tưởng tượng phục vụ cho marketing du kích.

Nếu chọn quảng cáo đại trà là vũ khí marketing du kích, bạn sẽ tiếp cận được với lượng khách hàng lớn hơn trong thị trường mục tiêu của mình. Bạn nên thiết kế quảng cáo của mình như thể bạn đang tiếp xúc trực tiếp với một thị trường mục tiêu cụ thể. Theo cách này, bạn có thể thu hút được nhiều sự chú ý của những người quan tâm nhất đến bạn và có nhiều khả năng lựa chọn bạn nhất.

Những thông điệp ngắn gọn, nhưng hấp dẫn chính là quy tắc của quảng cáo du kích. Hãy nghĩ đến câu quảng cáo sau: Got Milk? (Bạn đã có sữa chưa?). Đây là một trong những quảng cáo được đánh giá cao nhất và hấp dẫn nhất. Hãy độc đáo và sáng tạo. Đừng thiết kế quảng cáo của bạn giống hệt như vậy (ví dụ: Got Guerilla Marketing? (Bạn đã có cuốn Marketing du kích chưa?).

Thời gian làm thay đổi mọi thứ. Quảng cáo của ngày hôm nay không thể giống quảng cáo của ngày hôm qua. Sự thay đổi trong các yếu tố nhâu khẩu học và nhu cầu của khách hàng đã tạo ra những loại hình marketing truyền thông khác. Những loại hình như internet, truyền hình cáp, thư trực tiếp, thư điện tử, đã tạo ra những cơ hội và thách thức mới, hoàn toàn khác cho người làm marketing du kích khi so sánh với người làm marketing truyền thống.

Những người làm marketing du kích thường thích nghi và có phản ứng tích cực với thay đổi. Trong những lý do “tại sao phải quảng cáo” dưới đây, bạn sẽ thấy sự phản hồi tích cực này đúng với quảng cáo như thế nào:

  1. Làm nổi bật thông điệp của bạn giữa hàng ngàn thông điệp marketing xuất hiện mỗi ngày. Các thành viên trong thị trường mục tiêu thường xuyên nghe thấy thông điệp marketing của đối thủ, nhìn thấy các loại hình quảng cáo, nghe tin phát sóng, và xem hàng ngàn thông điệp marketing khác. Họ không ngừng di chuyển. Khi họ bước qua, quảng cáo đưa bạn đến trước mặt họ. Mục tiêu cuối cùng khi quảng cáo là làm cho khách hàng phải tiếp tục chú ý, dừng lại và mua hàng. Đó chính là nguyên tắc quảng cáo du kích.
  2. Chuyển nơi ở và sự quay vòng hàng hóa. Trong một số ngành kinh doanh, tình trạng mất khách hàng xảy ra rất thường xuyên. Khách hàng chuyển nơi ở, người mua thay đổi, các công ty được nhiều người biết đến hơn, việc mua hàng trở nên tập trung, và các công ty rời khỏi lĩnh vực kinh doanh. Khi khách hàng và công ty mới thâm nhập thị trường, thông điệp của công ty đó cần được giới thiệu lại và kết nối mạnh mẽ. Quảng cáo sẽ là công cụ mang lại khả năng giao tiếp thường xuyên, liên tục tới khách hàng mới.
  3. Khả năng tư duy. Phải mất rất nhiều lần để một thông điệp marketing có thể được kết nối trước khi công chúng nhận ra và hiểu (trừ phi phần thị trường mục tiêu của bạn là cho những người có khả năng nhớ chính xác). Không phải lúc nào tính hay quên cũng khiến thông điệp của bạn không được nhận biết, mà đôi khi đó là sự ưu tiên. Khách hàng triển vọng của bạn có cần hoặc muốn những gì bạn giới thiệu khi bạn truyền tải thông điệp đó không? Giao tiếp và quảng cáo giúp khách hàng nhớ đến bạn khi họ có nhu cầu đối với những gì bạn đang chào bán.
  4. Sự trì hoãn. Đôi khi khách hàng trì hoãn quyết định mua để mua những món hàng có lợi hay so sánh với những yếu tố sản phẩm, dịch vụ khác. Để thông điệp của bạn đứng đầu trong tiềm thức của khách hàng khi họ đang mua sắm sẽ giúp bạn là cái tên họ muốn trả tiền mua hàng nhất khi họ sẵn sàng mua sắm.

Sự nhất quán không đồng nhất với tính lặp lại. Nếu bạn đưa ra 12 quảng cáo với các thông điệp khác nhau, 12 quảng cáo với 12 kiểu trình bày và 12 thông điệp khác nhau thì khách hàng triển vọng của bạn sẽ nhớ quảng cáo nào khi họ quyết định mua hàng? Khách hàng triển vọng không có trí nhớ tốt, đặc biệt đối với hàng ngàn thông điệp marketing gửi tới họ mỗi ngày.

Thật ngạc nhiên khi có biết bao nhiêu nhân tố marketing độc lập song song với marketing tổng hợp. Cũng giống như marketing, quảng cáo có hiệu quả nhất nhờ sự lặp lại. Bạn đã hiểu rõ điều đó chưa?

Bốn yếu tố của quảng cáo du kích là:

  • Sự nhất quán
  • Tính lặp lại
  • Tính tập trung và
  • Định vị

Sự lặp lại tạo nên các mối liên lạc và mở ra một quan hệ với khách hàng hoặc người xem triển vọng. Tần số xuất hiện cao và thường xuyên sẽ đạt được điều này. Sự lặp lại cũng không ngừng củng cố tên tuổi, thương hiệu và thông điệp marketing trong tiềm thức khách hàng tiềm năng của bạn. Nó sẽ khiến tiềm thức khách hàng lưu lại nhận thức về lời chào hàng của bạn để khi họ cần hay muốn một lợi ích nào đó mà bạn chào hàng, họ sẽ nhớ đến quảng cáo, rồi ra quyết định cuối cùng là mua hàng cho bạn. Quảng cáo là để gợi nhớ, nên nếu chỉ thực hiện một lần là không đủ. Nếu bạn đang lên kế hoạch chỉ làm một quảng cáo một lần, thì đừng lãng phí túi tiền của bạn vào nó. Bạn sẽ không đạt được hiệu quả với một lần quảng cáo trừ khi bạn cực kỳ may mắn. Sự may mắn không phải là yếu tố mà người làm marketing du kích có thể tin cậy. Nếu ngân sách của bạn ít, hãy làm những quảng cáo nhỏ hơn nhưng thường xuyên.

Đầu tư cho quảng cáo

Cũng giống như sự thiếu thường xuyên, đầu tư quá ít vào quảng cáo sẽ không hiệu quả. Tuy nhiên, không giống như mức độ xuất hiện quá thường xuyên, đầu tư quá nhiều vào quảng cáo chưa chắc đem lại hiệu quả. Làm sao bạn có thể biết được thế nào là quá ít hay quá nhiều? Hãy hoàn thành buổi học hôm nay về marketing để biết điều này.

Theo rất nhiều cuốn sách ở bộ sách Marketing du kích (có bao gồm cả cuốn sách này), chi phí cho marketing không hiệu quả là chi phí không mang lại lợi nhuận đầu tư. Tương tự như vậy, chi phí cho quảng cáo không hiệu quả là khoản chi không cho thấy lợi nhuận thu về. Dành 1000 đô la cho một quảng cáo và thu lại 2000 đô la là một sự đầu tư quảng cáo tốt. Hãy cẩn thận với “món quảng cáo hời.” Bạn sẽ không biết được đó là một món lợi cho đến khi có kết quả đánh giá phản ứng khách hàng và mức doanh thu. Khi đã có số liệu, bạn có thể xác định liệu bạn có thu được món hời nào không. Mua hàng mặc cả không phải lúc nào cũng là mua với số tiền ít nhất có thể được, ít nhất là khi so với những tiêu chuẩn du kích.

Quảng cáo chất lượng cao

Cuối ngày hôm nay, bạn sẽ học xong những bài học lập kế hoạch du kích. Bạn cũng được chứng thực sự khác biệt của hai khái niệm “cá tính” và “hình ảnh”. Quảng cáo cũng là một cơ hội để thể hiện cá tính. Theo Marketing du kích, “nhiều người sẽ thấy quảng cáo của bạn hơn thấy bạn, hay công ty bạn, cho nên quan điểm của họ sẽ được hình thành từ quảng cáo”. Các đặc điểm nhận biết của bạn cũng sẽ như vậy. Vì nguyên nhân này, bạn muốn thận trọng không để những đặc điểm này rơi vào tay một nhà thiết kế nghiệp dư. Hãy đảm bảo rằng quảng cáo của bạn chuyên nghiệp, chuyển tải được tính chất đặc trưng của bạn nhiều lần và đó là “Bạn”.

Quảng cáo ở đâu

Bạn muốn quảng cáo của mình được nhìn thấy ở những nơi có thị trường mục tiêu của mình, hoặc nơi tiện cho họ quan sát.

Marketing có thể là trò chơi những con số. Quảng cáo cũng vậy. Hầu hết các phương tiện quảng cáo sẽ cho bạn biết chúng tiếp cận được bao nhiêu người thông qua tổng số lượng quảng cáo phát hành, số người xem trang, hay bằng một số phương tiện đánh giá khác. Một người làm quảng cáo sáng tạo tức là phải biết chọn một phương tiện được sử dụng thường xuyên nhất phù hợp với ngân sách và nhằm vào thị trường mục tiêu của bạn. Quảng cáo ở những nơi quá rộng đối với thị trường mục tiêu tập trung sẽ bị xem là một trong những khoản đầu tư marketing không hiệu quả, hay ít nhất là lãng phí. Có những lúc bạn sẽ làm quảng cáo ở những nơi mà thị trường mục tiêu của bạn không có mặt. Quảng cáo sẽ liên quan rât nhiều tới thị trường mục tiêu về mặt địa lý và phạm vi quảng cáo ở cấp độ địa phương hay quốc gia sẽ phụ thuộc vào thị trường mục tiêu của bạn ở đâu.

Chúng ta bị tất cả các loại quảng cáo tấn công dồn dập trong suốt cả năm và suốt cả cuộc đời. Số liệu thống kê cho thấy mỗi người trong thị trường mục tiêu của bạn chỉ nhận ra một trong số chín quảng cáo họ xem. Mỗi quảng cáo phải được nhìn thấy bao nhiêu lần trước khi nó tác động vào nhận thức hay hành động. Nếu phải mất ba quảng cáo mới có ảnh hưởng tới một khách hàng, thì “công thức cho tính hiệu quả” trở thành một trên 27 lần. Nếu bạn không thể quảng cáo 27 lần cho một thị trường mục tiêu, thì toàn bộ chương trình của bạn có thể không có hiệu quả, còn tài chính dành cho marketing du kích sẽ bị cạn kiệt. Tất nhiên, vẫn có những trường hợp ngoại lệ, nhưn thắng lợi ở Las Vegas cũng là một trường hợp nằm ngoài quy luật.

Ghi chú: Nếu chỉ vì một quảng cáo có hiệu quả ở một nơi thì điều này không có nghĩa nó sẽ hiệu quả ở nơi khác.

Nếu bạn không biết khách hàng triển vọng của bạn đi đâu, hãy hỏi họ hoặc xem lại kinh nghiệm nghiên cứu từ ngày học thứ 3. Vì sức sáng tạo làm tăng tính hiệu quả của quảng cáo, nên bạn hãy lập kế hoạch sáng tạo rõ ràng như được nói đến trong ngày học thứ 10. Giờ đây, bạn đang lấp dần chỗ trống của 30 ngày học marketing du kích.

Những phương tiện quảng cáo truyền thông khác nhau gắn liền với những tính chất khác nhau cần được tính toán kỹ lưỡng khi bạn lập kế hoạch cho chương trình marketing của mình:

  • Báo. Markeing mang lại nhiều thông tin và được những người quan tâm đến tin tức tìm đọc.
  • Tạp chí. Sự tín nhiệm. Câu này có vẻ “như đã xuất hiện trên tạp chí Time”. Có vẻ đáng tin cậy, đúng không nào?
  • Đài phát thanh. Phủ sóng rộng và đối thoại trực tiếp. Bạn đã từng bao giờ cảm thấy đài phát thanh nói chuyện trực tiếp với mình chưa?
  • Thư trực tiếp. Tính lặp lại và định hướng hành động, đôi khi tạo cảm giác khẩn cấp - “chỉ với một lượng thời gian có hạn” hay “hết hạn ngày mai”.
  • Truyền hình. Thậm chí còn phủ sóng rộng và mang tính minh họa nhiều hơn.
  • Sách cầm tay. Định hướng chi tiết và có ý nghĩa lâu dài nếu được sử dụng như một tài liệu tham khảo hay để tập hợp hồ sơ.
  • Quảng cáo được xếp loại. Ngắn ngọn, và đi thẳng vào vấn đề, đầy đủ thông tin.
  • Internet. Khả năng trao đổi hoạt động, thông tin và ảnh hưởng khi càng có nhiều người vào mạng.
  • Dấu hiệu. Phương tiện thúc đẩy và nhắc nhở, lợi dụng được những người mua bốc đồng.

Quảng cáo cái gì?

Lúc này, khi bạn đã biết tại sao phải quảng cáo và quảng cáo ở đâu, hãy tập trung vào việc quảng cáo cái gì.

Tạo ra một bản sao cho quảng cáo có thể sẽ ít khó khăn hơn. Những yếu tố dưới đây sẽ là cơ sở cho bản sao kế hoạch sáng tạo của bạn. Đây là kết quả có được sau khi phát triển kế hoạch sáng tạo được thảo luận cho hoạt động quảng cáo của bạn trong ngày học thứ 10.

Những yếu tố quảng cáo

Tiêu đề. Người làm marketing du kích và nhân vật làm quảng cáo tuyệt vời của chúng ta, David Ogilvy cho biết: “Trung bình cứ năm người đọc tiêu đề thì có năm người đọc phần thân bài của bản sao. Nếu tiêu đề không mang lại khách hàng cho bạn, bạn đã lãng phí 80% tiền đầu tư của mình”. Nhưng những người làm marketing du kích sẽ không bao giờ để lãng phí tiền. Tiêu đề khuếch trương quảng cáo của bạn sẽ được thiết kế nhằm thu hút người đọc hoặc người nghe.

Thân bài. Bạn là ai, có điều gì đặc biệt hay khác bình thường, ở đâu, khi nào và những gì được mô tả trong phần thân bài của phần quảng cáo của bạn. Thân bài quảng cáo ngắn gọn, cô đọng, và đôi khi sử dụng những câu nói không hoàn chỉnh.

Lời chào hàng. Đây là lý do vì sao bạn quảng cáo. Hãy nhớ mục đích của bạn.

Bí quyết. Hãy xem ngày học thứ 19 để biết Những bí quyết làm Marketing. Đây là một sự khích lệ khách hàng phản hồi.

Kêu gọi hành động. Hãy hướng dẫn khách hàng phải làm gì. Hãy quyết định giúp họ.

Hình ảnh quảng cáo: Nhấn mạnh tất cả những yếu tố này là tác phẩm đồ họa quảng cáo. Sách, các khóa học, bằng cấp, và các doanh nghiệp chỉ tập trung vào thiết kế đồ họa. Mục tiêu của một bản thiết kế tốt là thu hút sự chú ý, tạo ra hứng thú và khát khao theo một phong cách hiển thị hấp dẫn.

Đây chính là những gì được gọi là công thức AIDA. AIDA là viết tắt của sự chú ý (attention), hứng thú (interest), khát khao (desire) và hành động (action). Đừng để phần thiết kế đồ họa lấn át thông điệp và mục đích quảng cáo của bạn. Theo phong cách sáng tạo, đơn giản là tốt, dễ đọc là tốt, đi thẳng vào trọng tâm là tốt. Hãy lấy trường hợp của Acres, một trại nuôi gia súc ở thành phố Schulenburg, Texas làm ví dụ. Công ty này quảng cáo đều đặn hiệp hội chăn nuôi của mình trên một tờ tạp chí. Hầu hết các trại nuôi đều đăng những quảng cáo màu, có thiết kế đồ họa lớn với những bức hình lớn về trang trại của họ. Để nổi bật, Acres đăng một quảng cáo hài hước trắng đen. Quảng cáo này xuất hiện trên mỗi số phát hành. Nó hấp dẫn đến nỗi, người đọc luôn mong chờ đến quảng cáo của tháng tiếp theo.

Cũng theo quan điểm du kích, hãy làm những gì bạn có khả năng nhất và kiểm soát chí phí thiết kế của bạn. Nếu nó nâng cao năng suất và hiệu quả, hãy tham khảo ý kiến của chuyên gia đồ họa. Những người làm marketing du kích luôn đạt năng suất và hiệu quả cao với thông tin của ngày hôm nay. Vào ngày hôm nay, bạn cũng sẽ như vậy.

Trích Marketing du kích trong 30 ngày.

Bí quyết cho một thông điệp quảng cáo hay

Các nhà tiếp thị kinh doanh ngày nay sử dụng đủ loại chiến lược khác nhau với mục đích nâng cao hiệu quả của các chiến dịch quảng cáo, nhưng có một yếu tố mà dường như bị bỏ quên là lời văn quảng cáo nội dung câu chữ mà họ viết ra và truyền tải tới công chúng.

Cho dù bạn là một chuyên gia quảng cáo chuyên nghiệp hay nghiệp dư, việc rèn luyện và củng cố các kỹ năng biên tập đều quan trọng, bởi điều đó sẽ đảm bảo rằng các nội dung quảng cáo của bạn chứa đựng nhiều thông tin giá trị. Một lời quảng cáo hay sẽ giúp người đọc hiểu các chào hàng của bạn, hơn nữa sẽ hiểu được họ sẽ phải đáp lại như thế nào.


Dưới đây là 10 lời khuyên giúp bạn soạn thảo những câu văn rõ ràng, lôi cuốn và sống động nhằm thu hút sự chú ý của nhiều người.

1. Biết rõ các khách hàng của bạn:

Ai là đối tượng mà các chiến dịch tiếp thị của bạn đang hướng tới? Hãy phác họa bức tranh về các khách hàng chủ yếu của bạn. Hãy nghĩ về một ngày làm việc của họ. Nghĩ về những nhu cầu của họ. Đối với họ, điều gì là quan trọng nhất? Tình cảm của họ dành cho ai và cái gì? Họ bao nhiêu tuổi? Họ đã mua sản phẩm/dịch vụ nào từ công ty của bạn trong quá khứ và tại sao?.

2. Nắm chắc câu trả lời:

Bạn cần biết rõ câu trả lời cho các câu hỏi sau: Tại sao khách hàng nên mua sản phẩm/dịch vụ của bạn? Họ tìm thấy trong đó những lợi ích gì? Tại sao sản phẩm của bạn lại đáng chú ý hơn những mặt hàng tương tự? Những điểm khác biệt chủ yếu là gì?

3. Có một lời đề xuất bán hàng cụ thể:

Lời đề xuất bán hàng của bạn càng nổi bật so với các đối thủ cạnh tranh, bạn càng có nhiều cơ hội nhận được các phản hồi tích cực. Các chuyên gia quảng cáo cho rằng lời đề xuất bán hàng phải có giá trị như một sự xúc tiến kinh doanh mà các đối thủ cạnh tranh không thể thực hiện được, dù trong quá khứ, hiện tại hay tương lai. Điều quan trọng là lời đề xuất phải đủ mạnh mẽ để lôi kéo các khách hàng mới đến với sản phẩm/dịch vụ của bạn.

4. Thiết lập một mục tiêu:

Mục tiêu chiến dịch quảng cáo của bạn là gì? Bạn sẽ hành động như thế nào để khiến mọi người đến với sản phẩm/dịch vụ mà bạn đang cung cấp. Bạn cần phải trả lời câu hỏi này trước khi đặt bút viết đoạn văn quảng cáo. Nếu câu trả lời không rõ ràng với chính bạn, nó cũng sẽ không thể rõ ràng đối với người đọc.

5. Sử dụng một dòng tiêu đề lôi cuốn:

Đối với các chiến dịch tiếp thị, đặc biệt là tiếp thị bằng thư điện tử, dòng tiêu đề chính là những gì thu hút mọi người đến với quảng cáo của bạn. Bạn cần phải thuyết phục người đọc rằng họ nhất định phải mở e-mail, hay bức thư quảng cáo của bạn. Nội dung tiêu đề nên liên quan tới người đọc. Những từ ngữ thích hợp khác cho một tiêu đề hấp dẫn nên là cái gì đó mới mẻ, độc đáo hoặc mang tính giới thiệu. Đồng thời, bạn nên giữ cho dòng tiêu đề không dài quá 50 ký tự (tốt nhất là từ 20 đến 30 ký tự), bao gồm cả các dấu cách.

6. Viết một đầu đề hấp dẫn

Dòng tiêu đề có tác dụng để người đọc mở thư quảng cáo của bạn, và sau đó đầu đề sẽ đưa họ vào phần nội dung. Bạn nên sử dụng một vài thuật ngữ thông dụng với thông điệp rõ ràng là: “Có cái gì trong đó cho tôi?”. Một câu hỏi dành cho bản thân bạn là: Nếu các khách hàng chỉ đọc duy nhất đầu đề thì sao? Họ có biết đủ các thông tin về bạn và về những gì bạn đưa ra? Bạn nên thử viết từ 5 đến 10 dòng tiêu đề và từ 5 đến 10 đầu đề khác nhau, từ đó lựa chọn ra cái nào hiệu quả nhất. Mách bạn một mẹo nhỏ: dòng tiêu đề và đầu đề sẽ dễ viết hơn sau khi bạn đã viết xong toàn bộ nội dung quảng cáo.

7. Tránh những từ ngữ không dứt khoát:

Khi viết các tiêu đề, đầu đề, đề mục và nội dung quảng cáo, bạn cũng đừng sử dụng những từ ngữ kiểu ra lệnh trực tiếp, các từ viết tắt hay từ có tính ám chỉ. Đó là những từ như “có thể”, “có lẽ”, “hy vọng”, “mong muốn”, “cố gắng”, “tuy nhiên”, “có thể”, “dường như” và “nỗ lực”. Thay vào đó, bạn cần sử dụng các từ như “sẽ” và “chắc chắn” để miêu tả những gì mà sản phẩm/dịch vụ của bạn sẽ làm được cho khách hàng.

8. Đừng sử dụng thể bị động:

Thể bị động sẽ làm suy yếu nội dung thông điệp của bạn, vì vậy bạn cần tránh xa dạng này. Dưới đây là một số ví dụ giúp bạn nhận ra sự khác biệt: “Công ty chúng tôi được lựa chọn để nhận một phần thưởng” và “Công ty chúng tôi đã nhận một phần thưởng”, “10 mẫu thiết kế mới được tạo ra” và “Chúng tôi đã tạo ra 10 mẫu thiết kế mới”.

9. Trích dẫn lời của khách hàng cũ:

Bạn có một nhận xét tốt từ một khách hàng nào đó về sản phẩm/dịch vụ trong lá thư quảng cáo? Một trích dẫn vắn tắt và thuyết phục có thể bổ sung thêm độ tín nhiệm cho chiến dịch tiếp thị của bạn, nhưng thông tin về khách hàng mà bạn trích dẫn phải rõ ràng và xác thực. Việc đưa vào bản quảng cáo tên của họ, nơi sinh sống hay thậm chí là một bức ảnh, nếu nó thích hợp với quảng cáo của bạn, luôn là một cách hiệu quả để truyền tải giá trị dịch vụ của bạn.

10. Giữ cho bản quảng cáo của bạn được sạch đẹp và súc tích:

Sau khi viết xong lần phác thảo đầu tiên của bản quảng cáo, hãy đọc to lên. Bạn cũng nên để một ai khác đọc lại để xem liệu họ có hiểu thông điệp và lời kêu gọi hành động không. Trong khi biên tập, hãy cắt bỏ những từ ngữ không cần thiết và các ý kiến lặp lại. Bạn hãy xem liệu có thể giảm được 30% đến 50% nội dung ban đầu hay không.
Ngoài ra, những dấu gạch đầu dòng đẹp mắt và các phụ đề a, b, c,... sẽ khiến mọi người đọc dễ chịu hơn và việc cảm nhận cũng dễ dàng hơn - bởi vì phần lớn người đọc sẽ lướt qua trang quảng cáo trước khi quyết định có tiếp tục đọc chi tiết hơn hay không.

Tóm lại, một nội dung quảng cáo hấp dẫn là điều hoàn toàn trong tầm tay bạn. Việc nắm vững những yếu tố trên khi bắt tay vào viết một bản quảng cáo sẽ cải thiện đáng kể tính hiệu quả của quảng cáo, giúp cho mọi người hiểu nội dung thông tin và khiến họ phản hồi với chiến dịch tiếp thị của bạn. Hãy dành chút thời gian suy nghĩ và phân tích các lời khuyên này trước khi đặt bút xuống viết lời quảng cáo, và bạn sẽ có được một bản quảng cáo hoàn chỉnh, truyền tải rõ ràng các thông điệp kinh doanh.

Con người thời Web 2.0

Mạng xã hội và các kết nối thời Web 2.0 đang "âm thầm" thay đổi hành vi của con người, từ những giao tiếp giản đơn cho tới hành vi giao tiếp.


Mỗi buổi sáng, trước khi ra khỏi giường, Jessica Stryczek đã với lấy chiếc iPhone. Đó là cầu nối liên lạc của cô với thế giới bên ngoài – một chiếc đồng hồ báo thức/một chiếc máy quay đĩa/một thiết bị gửi thư điện tử/một bộ trò chơi/ một tờ báo/một người hướng dẫn mua sắm/một trợ tá ngân hàn/ một đường dẫn tới Facebook và Twitter. Stryczek, giáo viên 26 tuổi ở Fremont, California nói: “không có nó, tôi sẽ không sống nổi”.

Điều tương tự cũng xảy ra với Sara Wilson, người bắt đầu và kết thúc một ngày cũng với chiếc iPhones. Chiếc iPhones của cô cũng có hai chức năng chính: một cho đồng hồ báo thức và một cho những thứ khác – e-mail, tin nhắn, cập nhật Facebook và tweet (hiểu nôm na là bắn tin hay gửi tin nhắn) trên Twitter, kiểm tra số dư trong tài khoản ngân hàng.

Wilson, một người mua hàng phương tiện truyền thông 26 tuổi ở San Francisco không còn dùng đến điện thoại bàn kể từ hồi đại học. Cô nói: “Nó luôn luôn ở bên cạnh tôi như thể được dán keo vào cơ thể tôi vậy”.

Thế giới hậu Web 2.0 là như vậy. Phiên bản mới nhất của Internet đã trình làng “Web thời gian thực”, ví dụ điển hình cho việc sử dụng dịch vụ truyền thông cá nhân (PCs) hay điện thoại di động dành cho các cuộc liên lạc nhanh đang chìm vào dòng chảy thông tin trực tuyến.

Sự liên kết nối này đang được tiếp đầy nhiên liệu bởi sự gia tăng các mạng xã hội và việc liên lạc nhanh gọn với cung cách đàng hoàng và cùng với đó là cuộc sống đời tư ngày càng vắng mặt.

Theo báo cáo mới đây của hãng nghiên cứu thị trường Forrester Research, có hơn bốn trong năm người lớn Mỹ thường xuyên online sử dụng mạng xã hội ít nhất một tháng một lần. Trong khi thanh niên vẫn đều đặn gia nhập các mạng toàn cầu thì sự tăng trưởng nhanh nhất nằm ở các khách hàng từ 35 tuổi trở lên.

Giờ đây, các công ty đã được thiết lập và những công ty mới bắt đầu khởi động đang cạnh tranh nhau để phát triển các ứng dụng Web thời gian thực cho trò chơi điện tử, tìm kiếm trực tuyến, các dịch vụ định vị và hỗ trợ khách hàng. Các nhà phân tích công nghệ và nhiều người khác đều cho rằng đó là một thị trường tiềm năng khổng lồ.

Ông Tim O;Reilly - nhà sáng lập công ty truyền thông O’Reilly Media, đồng thời là người được cấp bằng phát minh cho Web 2.0 - nói rằng mọi thứ từ điện thoại di động cho đến máy ảnh kỹ thuật số nói chung đều “đang được biến thành tai mắt cho các ứng dụng. Dữ liệu được thu thập, giới thiệu và hoạt động dựa trên thời gian thực. Đó là tất cả những gì về dữ liệu tức thời”.

Nhu cầu tốc độ

Nhu cầu về tốc độ dữ liệu đã khơi nguồn cảm hứng cho O"Reilly nảy ra một cụm từ mới "Web squared”, để mô tả sự tiến hóa của Web kể từ khi chúng ta biết và sử dụng nó. O"Reilly and John Battelle, người sáng lập Federated Media Publishing đã tạo ra nó trong một phần mềm trước khi Hội nghị thượng đỉnh Web 2.0 diễn ra ở San Francisco vào tháng tới.

Họ đang cân nhắc Wal-Mart là một công ty Web-squared bởi các hoạt động của công ty này sở hữu công nghệ mới nhất và quản lý dữ liệu của khách hàng. Một trong những khả năng lớn nhất của Web-squared là cung cấp loại hình tri thức thời gian thực tới những nhà bán lẻ nhỏ hơn mà không vướng phải dây xích cung cấp độc quyền.

Triết lý của Wal-Mart được hàng trăm nhà thị trường khác chia sẻ, những người ủng hộ nồng nhiệt ý tưởng kiếm tiền trên Web thời gian thực. Ford Motor, Starbucks và Chevron là ba trong số các công ty lớn sử dụng Twitter, Facebook và YouTube để bán các sản phẩm, cung cấp dịch vụ cho khách hàng và liên lạc với mọi người.

Theo Forrester Research, 95% trong số 1217 những người đưa ra quyết định kinh doanh được khảo sát hồi năm ngoái cho biết họ có kế hoạch sử dụng các mạng xã hội. Một báo cáo khác của Forrester hồi tháng 4 cũng chỉ ra 53% trong số hơn 300 nhà thị trường đã có kế hoạch tăng chi phí marketing trên mạng xã hội vào năm nay.

Ảnh hưởng của trạng thái liên kết nối của họ đang mở rộng về phía tiếp thị. Trò chơi điện tử là nhóm ứng dụng phổ biến nhất trên Facebook với hơn 350 000 ứng dụng. Tám trong số các trò chơi trên Facebook có ít nhất 12 triệu người chơi hàng tháng. Còn các công ty trò chơi điện tử thì đang hi vọng kiếm được 600 triệu đô trong năm nay thông qua các mạng xã hội, lớn hơn nhiều so với con số 150 triệu đô năm 2008.

Mark Pincus - Giám đốc điều hành Zynga, nhà sản xuất hai trò chơi điện tử phổ biến nhất trên Facebook – FarmVille, với khoảng 47 triệu người sử dụng thường xuyên hàng tháng, và Mafia Wars, với hơn 24 triệu người, và trên MySpace là 15 triệu người. nói: “Sự giới hạn 140 ký tự khi viết một bình luận trên Twitter là biểu tượng cho tầm chú ý ngắn của mọi người… Trò chơi xã hội được xây dựng với cùng tiêu chí như vậy. Một ván chơi chỉ kéo dài vài phút hoặc chỉ cần hai cú nhắp chuột. Với FarmVille và Mafia Wars, bạn hầu như không thể chơi lâu”.

Các cuộc tìm kiếm online cũng vậy. Trong thế giới hỗn độn Web thời gian thực, các cá nhân thường tìm cùng một chủ đề nhiều lần trong ngày bới vì dòng chảy thông tin quá lớn và thay đổi liên tục. Khám phá những tin tức kiểu như cái chết của Michael Jackson là một ví dụ điển hình.

Tobias Peggs, tổng giám đốc của OneRiot, một công cụ nghiên cứu giúp khách hàng sàng lọc thông tin qua “chat và buzz” trên Internet cho rằng dòng thông tin trên Twitter, Facebook, Digg và MySpace có thể đang chiếm ưu thế.

Ông Pegg cho biết họ đang làm cho những người sử dụng Web thời gian thực những gì Google làm cho Web tĩnh.

Những phương tiện tìm kiếm hiện đại sử dụng các thuật toán phức tạp và hàng trăm tiêu chí phân loại khác nhau để cho ra kết quả. Nếu nhiều người sử dụng nháy vào mục thứ ba của một trang kết quả tìm kiếm hơn mục thứ nhất, các thuật toán của Google nhận diện kết quả mục thứ ba này có thể tốt hơn trang kết quả mục thứ nhất và do đó điều chỉnh các kết quả tìm kiếm đó.

Ứng dụng di động của Google cho iPhone sử dụng hệ thống định vị vệ tinh GPS hoặc là công nghệ tháp phát sóng tam giác để dò vị trí của người sử dụng. Một nghiên cứu về “thức ăn Trung Quốc” đã cho ra các kết quả gồm tên, vị trí và thông tin liên lạc cho ba nhà hàng Trng Quốc gần nhất.

Thậm chí các máy điện thoại bàn bây giờ cũng đang được kết nối với Web thời gian thực. Điện thoại di động, một phương tiện được người sử dụng mạng xã hội ưa chuộng đang dần thay thế điện thoại bàn cũ kỹ hàng chục thập kỷ nay.

Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh của Mỹ khi làm cuộc điều tra sức khỏe qua điện thoại bàn cho biết trước khi kết thúc năm 2008, 20% các hộ gia đình ở Mỹ chỉ dùng điện thoại di động so với con số 7% vào nửa đầu năm 2005. nếu đà suy giảm này vẫn tiếp tục với tốc độ hiện nay thì khoảng năm 2025 đường dây điện thoại cuối cùng sẽ bị cắt.

Một thế hệ áp đảo?

Tác động của cuộc tiến hóa Web gần đây nhất – cả tích cực và tiêu cực – có thể được đo lường ngay trong cuộc sống hàn ngày. Người ta có thể sẽ đi vào học trường phổ thông và đại học nhiều hơn bởi vì những sở thích chung với bạn bè nhờ vào các dịch vụ mạng xã hội như Ning và Facebook. Ông O’Reilly thì chỉ ra rằng các phi vụ buôn bán hàng hóa tự động đã thay thế những cuộc buôn bán cấn sự có mặt của con người.

Nhưng theo các học viện và những người ủng hộ sự riêng tư thì sự giao tiếp đơn giản và riêng tư thường bị buộc phải từ bỏ trong quá trình phát triển này.

Những sự thay đổi có thể làm khuấy động nhưng luôn có tiền lệ. Truyền thông mới và được cải tiến hầu như luôn luôn đem đến những thay đổi về hành vi. Trước đây thế hệ truyền hình luôn có mặt trong các bữa ăn tối. Radio thì mang thành viên các gia đình xích lại gần nhau. Sự khác nhau lớn ở đây là Web thời gian thực luôn luôn kết nối hàng triệu người vào mọi lúc.

Trevor Traina, người đồng sáng lập và bán hai công ty Internet mới thành lập nói: “Ba hay bốn năm trước đây, chúng ta nói về Web như nó đang tước đi quyền công dân của mọi người khi ngồi trước màn hình máy tính một mình. Nhưng nó đã trở thành một vòng tròn hoàn chỉnh. Giờ đây, máy tính cá nhân có thể là một chốn liên lạc náo nhiệt. Bạn không thể đi tới cửa hàng rau quả mà không kể với bạn bè của mình”.

Những người sinh từ 1978 đến 1997 – hay còn gọi là thế hệ Net – là thế hệ đông đúc nhất (78.5 triệu người ở mỹ). Don Tapscott, tác giả của cuốn “Những người trưởng thành được số hóa” cho rằng những người này sẽ thống trị thế kỷ 21.

Tuy nhiên dù biết ơn những lợi ích mà web thời gian thực mang lại, nhiều người cũng phải thừa nhận gặp phải vô khối chuyện bực mình khi thời gian kết nối lên tới 20 giờ một ngày.

Bệnh đau đầu là điều bực mình hàng đầu trong danh sách đó.

Vấn đề rắc rối không kết thúc ở đây. Khách hàng chịu hậu quả vì thiếu đi sự riêng tư; đôi lúc việc sử dụng quá nhiều mạng xã hội chính nó lại cho thấy thái độ bài xã hội không có chủ tâm; họ có thể bị lạc vào một mớ thông tin vô giá trị và những tin đồn thất thiệt; và họ thường chấp nhận bị chôn vùi bởi một cuộc oanh tạc thông tin.

Thỉnh thoảng, những lời mời mọc tham gia các trò chơi, kết bạn với người lạ không ngừng chỉ là những thư rác.

Kevin Weatherman, 27 tuổi, đang phát triển một kế hoạch kinh doanh cho một công ty quảng cáo trên Internet mới thành lập ở palo Alto, California cho rằng đôi lúc nó làm cho bạn bị xao nhãng. Anh sử dụng ít nhất 6 dich vụ tin nhắn trực tiếp cùng một lúc.

Bill hankes, 45 tuổi, một người phát ngôn cho RealNetworks, một công ty dịch vụ giải trí kỹ thuật số ở Seattle nói: “Sự thực là tôi thà để quên ví ở nhà hơn là phải offline”.

Theo USA Today